1. Luật tích lũy và định luật tỉ lệ lợi nhuận giảm dần

Trong chủ nghĩa Tư bản, tất cả giới kinh doanh cố gắng thu được giá trị thặng dư nhiều hơn để tăng thêm lợi nhuận. Giá trị thặng dư theo định nghĩa được lấy từ lao động. Vì thế, chúng ta nghĩ rằng các nhà Tư bản phải tìm kiếm phương pháp sản xuất tập trung nhiều lao động để tối đa hóa lợi nhuận của mình. Thế nhưng, thực tế họ tiếp tục đấu tranh để thay Tư bản bằng lao động. Động cơ phải làm như thế được Marx giải thích rõ ràng trong Capital:

“Giống như mọi sự gia tăng sức sản xuất khác của lao động, máy móc phải làm hàng hóa rẻ hơn, và bằng cách làm giảm phần ngày làm việc, trong đó người lao động làm việc cho chính mình, để kéo dài phần khác mà anh ta đang cung cấp, không có sự tương đương, cho nhà Tư bản. Tóm lại, đây là biện pháp để có được giá trị thặng dư". (Capital, I, trang 405).

Cá nhân nhà Tư bản sẽ dùng Tư bản thay cho lao động theo cách có lợi vì cần có thời gian điều chỉnh các phương pháp sản xuất mới. Nhà Tư bản đầu tiên giới thiệu loại máy tiết kiệm sức lao động sẽ có khả năng sản xuất với phí tổn thấp hơn đối thủ của mình và bán với giá được thị trường xác định bằng sự phổ biến của các doanh nghiệp cơ khí hóa kém hơn.

Tuy nhiên, điều gì đúng đối với cá nhân thì không đúng cho tất cả. Nếu mỗi nhà Tư bản giới thiệu nhiều máy móc hơn, thì thành phần vốn hữu cơ gia tăng, giá trị thặng dư giảm, vì thế tỉ lệ lợi nhuận bình quân cũng giảm. Do đó tác dụng tập thể trong cố gắng của mỗi nhà Tư bản phải tích lũy Tư bản nhiều hơn nữa và nhiều lợi nhuận hơn có khuynh hướng làm giảm tỉ lệ lợi nhuận bình quân.

Lý do khác giải thích tại sao tỉ lệ lợi nhuận có thể giảm qua thời gian là công nhân có thể đẩy các mức tiền lương lên cao hơn. Nếu làm thế, triển vọng này sẽ tăng phí tổn sản xuất, trong khi giá cả sẽ được “lao động cần thiết trong xã hội” quyết định. Ricardo cũng thừa nhận triển vọng này, nhưng ông cho rằng sự phát triển như thế sẽ được kiểm tra bằng chiếc bẫy dân số Malthus. Nhưng Marx không phải là Malthus. Thay vào đó, ông cho rằng dân số được xác định bằng văn hóa và xã hội. Vì thế, tiền lương cao hơn không nhất thiết bị buộc phải giảm xuống bằng sự phát triển dân số nhanh.

2. Định luật gia tăng tập trung và tập trung hóa công nghiệp

Cố gắng thu lợi nhuận mô tả ở trên cuối cùng và chắc chắn dẫn đến sự thay thế lao động bằng Tư bản nhiều hơn và biến đổi công nghiệp quy mô nhỏ thành các doanh nghiệp quy mô lớn với sự phân công lao động đáng kể hơn và khả năng sản xuất nhiều hơn. Sự gia tăng sản xuất và khả năng sản xuất này sẽ dẫn đến sự sản xuất sản phẩm quá thừa, vì thế đẩy giá rớt xuống điểm nơi chỉ có những nhà sản xuất hiệu quả nhất mới có thể trụ vững. Doanh nghiệp kém hiệu quả hơn sẽ bị đánh bật khỏi kinh doanh bằng những tình huống ở trên, tài sản của họ đang bị những doanh nghiệp đang trụ vững ngấu nghiến ngon lành. Do đó, công nghiệp ngày càng trở nên tập trung hóa nhiều hơn, và khả năng sản xuất sẽ gia tăng tập trung vào tay của một ít doanh nghiệp hơn.

3. Định luật phát triển đạo quân công nghiệp dự trữ

Sự thay đổi động lực cùng với cải tiến công nghệ và thay thế lao động bằng Tư bản có tác dụng mạnh đến giai cấp công nhân - nạn thất nghiệp. Trong đoạn văn sau, Marx đã nguyền rủa sự phân công lao động mà Smith ca tụng như phép màu kinh tế:

“Sự tự bành trướng Tư bản bằng phương tiện máy móc trực tiếp tương xứng với số lượng công nhân mà phương tiện sinh kế của họ đã bị máy móc này phá hủy. Toàn bộ hệ thống sản xuất Tư bản chủ nghĩa dựa trên thực tế công nhân bán sức lao động của mình như hàng hóa. Nhờ sự phân công lao động, sức lao động này trở nên chuyên môn hóa, biến thành kỹ năng xử lý một công cụ đặc biệt. Ngay sau khi xử lý công cụ này trở thành công việc của máy, giá trị sử dụng và giá trị trao đổi sức lao động của công nhân biến mất. Công nhân trở thành hàng hóa không thể bán được, giống như tiền giấy không còn giá trị pháp lý nữa. Bộ phận giai cấp công nhân này mà máy móc đã khiến họ trở thành dư thừa... hoặc bị gạt bỏ trong cuộc đấu tranh bất công giữa ngành công nghiệp sản xuất, thủ công cũ với công nghiệp cơ khí, hoặc tất cả dòng chảy sẽ tiếp cận đến mọi ngành công nghiệp dễ dàng hơn, tràn ngập thị trường lao động, nhận chìm giá sức lao động thấp hơn giá trị của nó”. (Capital, I, trang 470).

Việc thay công nhân bằng máy móc tạo ra một “đạo quân công nghiệp thất nghiệp đang gia tăng”, một trong những mâu thuẫn vốn có mà Marx nhận thấy trong chủ nghĩa Tư bản. Nạn thất nghiệp này có hai dạng: (1) thất nghiệp công nghệ (do thay thế lao động bằng máy móc) và (2) thất nghiệp theo chu kỳ (do cung vượt cầu, đến lượt cung vượt cầu do gia tăng tập trung và tập trung hóa gây ra).

4. Định luật gia tăng sự bần cùng giai cấp vô sản

Khi đạo quân dự trữ công nghiệp gia tăng, cảnh bần cùng của giai cấp vô sản cũng tăng. Ngoài ra, các nhà Tư bản thường tìm cách bù đắp tỉ lệ lợi nhuận giảm dần bằng cách giảm lương, buộc làm nhiều giờ hơn, sử dụng lao động trẻ em và phụ nữ, v.v... Tất cả những điều này góp phần bần cùng giai cấp công nhân một cách tuyệt đối.

Tác dụng đầu tiên của việc sử dụng máy móc phổ biến là phải mang phụ nữ và trẻ em vào lực lượng sản xuất, vì sức mạnh cơ bắp không nhiều sẽ được phóng đại khi sử dụng máy. Vì thế, thay vì bán sức lao động của riêng mình, công nhân bị buộc phải bán sức lao động của cả vợ lẫn con. Theo nguyên văn của Marx, công nhân “trở thành thương nhân nô lệ”. Sự đặt vào tình thế gian khổ trong đời sống nhà máy như thế dẫn đến tử suất ở trẻ em tăng cao và sự xuống cấp luân lý ở phụ nữ và trẻ em, và Marx tìm cách khẳng định những thực tế này bằng những trích dẫn từ báo cáo y tế công cộng ở Anh.

Như các phương tiện hiệu quả nhất nhằm giảm thời gian làm việc cần thiết để tạo ra hàng hóa, máy móc cũng trở thành phương tiện hiệu quả nhất để kéo dài ngày công, sao cho nhà Tư bản có được giá trị thặng dư nhiều hơn. Vả lại, máy móc chuyên môn hóa và đắt tiền để không chỉ trong thời gian ngắn đối với các nhà Tư bản cũng tốn kém, vì thế họ cố gắng tối thiểu hóa thời gian để máy nhàn rỗi. Theo Marx kết quả là ngày công dài hơn, thời gian giải trí ít hơn và sự bần cùng đối với người lao động nhiều hơn. Ngày công dài hơn và sự tăng cường nỗ lực làm việc làm cạn sức khỏe và tuổi thọ của giai cấp công nhân.

Từ quan điểm lịch sử, điều này dường như có giá trị kém nhất trong lập luận của Marx. Trong thuật ngữ kinh tế thuần túy, tiên đoán ngày tận thế của Marx không được thi hành. Dĩ nhiên, không chắc liệu giai cấp công nhân có tiến bộ kinh tế vượt bậc hay không bởi vì ảnh hưởng của Marx hay bất kể dự đoán của ông về sự gia tăng bần cùng. Bằng mọi giá, phát biểu có hệ thống về thuyết gia tăng bần cùng của ông không thích hợp với kiểm tra thực nghiệm. Phái Marxist chính thông cố gắng hòa giải điều kiện làm việc thực tế của giai cấp công nhân với phần này trong thuyết của Marx bằng cách khẳng định sự bần cùng tương đối của giai cấp công nhân gia tăng - họ hướng về tác dụng vô nhân đạo của sản xuất tự động hóa ngày nay, gia tăng sự chuyển nhượng và phân cực công nhân, các nhóm dân tộc thiểu số, và v.v...

5. Định luật khủng hoảng và suy thoái

Theo một phong cách rất hiện đại, Marx liên kết giải thích các chu kỳ kinh doanh với chi phí đầu tư. Ông nhận thấy các nhà Tư bản sẽ đầu tư ở thời điểm này nhiều hơn thời điểm khác. Khi đạo quân thất nghiệp gia tăng và tiền lương giảm, các nhà Tư bản có khuynh hướng thuê thêm nhiều lao động và đầu tư vào máy móc, thiết bị ít hơn. Nhưng khi lương tăng, như chúng ta đã chứng kiến, các nhà Tư bản thay lao động bằng máy móc, dẫn đến nạn thất nghiệp và lương giảm, gây ra khủng hoảng theo chu kỳ. Thuyết khủng hoảng của Marx là một bộ phận trong dự định của ông nhằm chứng minh thuyết gia tăng bần cùng. Vì thế chỉ khả năng xảy ra khủng hoảng đơn thuần vẫn chưa đủ, ông cũng phải chứng minh khả năng nhạy cảm của chủ nghĩa Tư bản trước khủng hoảng bằng cách tăng thêm tính khốc liệt. Ông chứng minh bằng cách nhấn mạnh đến động lực bất tận của nhà Tư bản trong việc tích lũy.

Ớ Marx, tăng bần cùng liên quan đến thất nghiệp, đến lượt thất nghiệp là hậu quả của cố gắng từ nhà Tư bản tích lũy Tư bản, như phác họa phía trên. Động lực này phải tích lũy là sự tự mâu thuẫn, và thực ra là nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng kinh tế vì dẫn đến sự sản xuất Tư bản quá thừa. Marx có nói trong Capital như sau:

“Ngay sau khi Tư bản lẽ ra phát triển đến một tỉ lệ như thế so sánh với dân số lao động, rằng... Tư bản gia tăng không tạo ra số lượng giá trị thặng dư không nhiều hơn nữa, thậm chí còn ít hơn lúc trước, trước khi có sự gia tăng sản xuất Tư bản quá thừa. Nghĩa là, Tư bản tăng c + AC sẽ không tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nữa., sẽ là sự giảm sút mạnh mẽ, đột ngột trong tỉ lệ lợi nhuận bình quân... do có sự thay đổi trong thành phần Tư bản...” (Capital, III, trang 294-295).

Tỉ lệ lợi nhuận giảm dần này báo hiệu cho khủng hoảng đang treo lơ lửng. Qua thời gian, những khủng hoảng này trở nên gay gắt hơn, nghĩa là, sẽ ảnh hưởng đến nhiều người hơn (vì sự gia tăng dân số qua thời gian) và kéo dài hơn. Ngoài ra, theo Marx, sẽ có khuynh hướng hướng về sự suy thoái thường trực bởi lẽ đạo quân dự trữ công nghiệp đông hơn khi khủng hoảng gay gắt hơn. Kết quả logic của một khuynh hướng như thế là cách mạng xã hội. Sau cùng giai cấp vô sản phải đoàn kết, cởi bỏ xích xiềng, và tiếp quản phương tiện sản xuất.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)