1. Bản chất của tư bản là gì?

Qua quá trình nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị thặng dư, có thể định nghĩa chính xác tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê. Như vậy bản chất của tư bản thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo ra.

>> Xem thêm: Tích lũy tư bản là gì? Bản chất, nhân tố ảnh hưởng và quy luật tích lũy tư bản

 

2. Hiểu thế nào tư bản bất biến, tư bản khả biến là gì?

- Tư bản bất biến ( ký hiệu C): là bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất và giá trị được bảo toàn và chuyển vào sản phẩm.

Tư liệu sản xuất là tư bản bất biến, là một hình thức của tư bản tồn tại trong tư bản sản xuất. Trong sản xuất, công nhân sử dụng tư liệu sản xuất để chế tạo ra sản phẩm. Tư liệu sản xuất có nhiều loại:

+ Tư liệu sản xuất được sử dụng toàn bộ trong quá trình sản xuất, được sử dụng trong một thời gian dài nhưng chỉ hao mòn dần qua nhiều chu kỳ sản xuất, do đó chuyển dần từng phần giá trị của nó vào sản phẩm như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…

+ Tư liệu sản xuất khi đưa vào sản xuất thì chuyển toàn bộ giá trị của nó trong một chu kỳ sản xuất như nguyên liệu, nhiên liệu.

Dù giá trị tư liệu sản xuất được chuyển dần từng phần hay chuyển nguyên vẹn ngay vào sản phẩm, bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất có đặc điểm chung là giá trị của chúng được bảo tồn không có sự thay đổi về lượng và chuyển vào sản phẩm mới trong quá trình sản xuất, chính vì vậy, nó được gọi là tư bản bất biến, đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản và lớn nhất của tư bản bất biến so với tư bản khả biến.

Theo đó, sức lao động có vai trò như thế nào trong quá trình sản xuất tư bản? Sức lao động là tư bản khả biến. Tư bản khả biến là khái niệm trong kinh tế chính trị Mac-Lenin dùng để chỉ về một bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động (trả lương, thuê mướn công nhân), đại lượng của nó thay đổi trong quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư (được ký hiệu là v).

>> Xem thêm: Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là gì? Công thức tính chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa?

 

3. Phân biệt tư bản bất biến và tư bản khả biến? Cho ví dụ

Thứ nhất: Về định nghĩa tư bản bất biến và tư bản khả biến

+ Trong quá trình sản xuất, giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, và lượng giá trị của chúng không đổi so với trước khi đưa vào sản xuất. Bộ phận tư bản này được gọi là tư bản bất biến, ký hiệu là c.

+ Đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

Như vậy, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng và được gọi là tư bản khả biến. Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng, được C. Mác gọi là tư bản khả biến, và ký hiệu là v.

Thứ hai: Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v) là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất ra để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính là bộ phận tư bản lớn lên.

Ví dụ: Khi bạn sản xuất hay kinh doanh, bạn phải bỏ vốn (tư bản). Tiền bán hàng thu được (doanh số) có thể khác nhau theo từng ngày (hoặc tháng, tùy cách bạn tính). Trong doanh số bao gồm tiền vốn và tiền lời. Trong tiền vốn có : vốn thay đỏi theo doanh số (tư bản khả biến) và không thay đổi theo doanh số (tư bản bất biến).

Thí dụ : bạn bán cà phê. Mỗi ngày bàn được 100 ly, mỗi ly 5$ do doanh số là 500$.

- Tiền vốn mỗi ly cà phê là 3$ trong đó chia ra :

a/ : vốn khả biến : cà phê 1,5$; đường : 1$; nước sôi 0,5$ . goi nó là khả biến vì nó tăng giảm theo doanh số. b/ vốn bất biến : tiền thuê mặt bằng, tiền lương nhân viên, tiền điện...mỗi ngày 100$. Số này không thay đổi theo doanh số, ngày đó trời mưa bão không bán được ly cà phê nào bạn vẫn tốn như thế.

Vậy ngày hôm đó bạn sẽ lời được : 500- ( 200 khả biến + 100 bất biến) = 100$.

>> Xem thêm: Những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản là gì?

 

4. Ý nghĩa tư bản bất biến và tư bản khả biến

Ý nghĩa của tư bản bất biến và tư bản khả biến là một trong những yếu tố dùng để phân biệt sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến.

Cụ thể, theo chủ nghĩa Mác-Lênin, việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động thể hiện trong hàng hoá đã giúp Mác xác định sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến.

Sự phân chia này dựa trên vai trò khác nhau của các bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Vì thế, nó vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.

Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến và tư bản khả biến chính là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.

Tư bản bất biến là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để sản xuất ra giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên.

Và cũng theo đó, việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Giai cấp tư sản sử dụng máy móc hiện đại tự động hóa quá trình sản xuất đối với một số sản phẩm. Trong điều kiện sản xuất như vậy, tư bản bất biến có vai trò quan trọng quyết định việc tăng năng suất lao động, nhưng cũng không thể coi đó là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Suy đến cùng, bộ phận tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức sức lao động (chân tay và trí óc) mới là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.

Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến và tư bản khả biến chính là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao.

Ở đây việc phân chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động là đặc điểm riêng của tư bản sản xuất và căn cứ của sự phân chia là phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất, hay dựa vào phương thức chu chuyển của tư bản.

Người công nhân tạo ra một giá trị, xét về quy mô thì vượt quá những chi phí về tiền lương, nghĩa là tạo ra giá trị thặng dư trong xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Do đó, giá trị của tư bản ứng trước không những được bảo tồn trong quá trình tạo ra giá trị mới, mà còn tăng thêm một đại lượng bằng đại lượng của giá trị thặng dư.

Mác là người đầu tiên tìm ra việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Giá trị thặng dư chỉ là số tăng thêm của tư bản khả biến điều đó đã chỉ rõ nguồn gốc thực sự của việc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả biến còn là một tham số để tính tỷ suất giá trị thặng dư (m’).

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Phân biệt tư bản bất biến và tư bản khả biến? Cho ví dụ mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!