1. Các mô hình công chứng trên thế giới

Từ trước tới nay, trên thế giới tồn tại 03 mô hình công chứng:

- Mô hình công chứng La tinh tương ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là mô hình pháp luật dân sự (Civil Law);

- Mô hình công chứng Anglo - Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law);

- Mô hình công chứng tập thể (Collectiviste) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).

 

2. Nguồn gốc pháp luật Common Law

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Common law gắn liền với lịch sử Common law của nước Anh. Trước thế kỉ V, nước Anh đã từng bị xâm lược bởi đế quốc La Mã. Trong gần bốn thế kỉ chịu sự cai trị của La Mã, không giống như cách La Mã cai trị các quốc gia châu Âu còn lại, Anh không không bị áp đặt bởi Luật La Mã. Điều này chủ yếu là do nội dung pháp luật dân sự La Mã không phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội của Anh lúc bấy giờ là nền kinh tế hàng đổi hàng. Mặc khác chính nhờ vào các yếu tố địa lý cũng như yếu tố con người (tính bảo thủ) mà sự xâm chiếm này không tác động nhiều đến sự phát triển của hệ thống pháp luật này.

Nguồn gốc pháp luật chủ yếu dựa trên nền tảng pháp luật Anh cổ (Anglo - Saxong) với những tập quán được hình thành từ sự phát triển của cộng đồng. Như đã đề cập ở trên, cho dù Anh quốc từng bị đế quốc La Mã cai trị nhưng dường như không có dấu vết ảnh hưởng quan trọng của Luật La Mã trong pháp luật Anh. Sau khi La Mã suy tàn, nước Anh chia ra thành nhiều vương quốc nhỏ có các hệ thống pháp luật bao gồm dù ít hay nhiều, các quy định mang tính địa phương. Sau khi một nhà nước chuyên chế thống nhất được hình thành vào giai đoạn đầu của thế kỷ 11, tại Anh sau đó xuất hiện 3 tòa, mà trong một chừng mực nào đó có thẩm quyền chồng chéo: Tòa Tài chính, Tòa Hoàng gia và Tòa chuyên các vụ kiện chung. Với ưu thế về sự hiện đại, tính hiệu quả và nhận được sự ưa chuộng, các thẩm phán Hoàng gia trở thành "thẩm phán lưu động", họ đi khắp đất nước để xét xử các vụ việc nhưng vẫn giữ chỗ ở thường xuyên về mùa đông tại Luân Đôn. Khi đi xét xử lưu động khắp đất nước, các thẩm phán Hoàng gia làm quen với các tập quán pháp khác nhau và mỗi khi gặp nhau tại Luân Đôn họ thường thảo luận với nhau, so sánh các điểm mạnh, điểm yếu của chúng. Dần dà, điều này đưa đến kết quả là các thẩm phán Hoàng gia ngày càng áp dụng thường xuyên hơn các quy định pháp luật giống nhau trên khắp đất nước và thế là "luật Common" ra đời. Các thẩm phán trong quá trình giải quyết các vụ việc của mình chủ yếu dựa trên những tập quán này để giải quyết. Chính họ là những người đã tạo ra common law trong quá trình xét xử lưu động ở các địa phương trên toàn Anh quốc bằng việc thỏa thuận áp dụng thống nhất một số tập quán địa phương được lựa chọn và nâng cấp các tập quán đó lên thành tập quán quốc gia. Tuy nhiên, sau khi common law đã được hình thành, thay vì áp dụng tập quán pháp, các thẩm phán hoàng gia đã áp dụng án lệ trong quá trình xét xử trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tiền lệ pháp (Rule of Precedent).

Sau khi hình thành ở Anh quốc, dòng họ common law đã lan sang khắp các châu lục từ châu Phi, châu Mỹ đến châu Úc, châu Á và hình thành nên "hệ thống Common Law". Hệ thống này chủ yếu được mở rộng bằng con đường thuộc địa hóa của Hoàng gia Anh.

 

3. Khái quát về chức năng của hoạt động công chứng

3.1. Khái niệm công chứng và công chứng viên

Nhìn chung các nước đều quy định công chứng là hoạt động của cơ quan công chứng xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hành vi pháp lý dân sự, sự kiện pháp lý và các văn bản pháp lý theo các trình tự quy định của pháp luật.

Mặc dù cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản công chứng viên (sau đây gọi tắt là CCV) được hiểu là viên chức công được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó các bên phải hoặc muốn đảm bảo tính xác thực của văn bản đó giống như văn bản của các cơ quan công quyền khác và đảm bảo việc lưu giữ, cấp bản sao của văn bản đó (Pháp, Đức, Ba Lan, Tây Ban Nha...)

 

3.2. Chức năng của công chứng

Hệ thống công chứng có hai chức năng chính. Thứ nhất là để ngăn chặn các tranh chấp pháp lý: việc chuẩn bị các văn bản công chứng mang lại bằng chứng rõ ràng liên quan đến các quyền lợi hợp pháp và giúp ngăn chặn tranh chấp pháp lý. Thứ hai là để giải quyết các tranh chấp pháp lý: các văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ cấu thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành hoặc là cơ sở để một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình.

 

4. Mô hình công chứng Anglo-saxon

Ở các nước trong hệ Anglo-sacxon, thể chế công chứng không được thiết lập. Nhà nước không thừa nhận một thể chế công chứng, không bổ nhiệm một chức danh hoạt động công chứng chuyên nghiệp và chuyên biệt, được trang bị một quyền năng để thay mặt Nhà nước đem lại tính xác thực cho những hợp đồng, văn bản.

Chức năng công chứng ở các nước theo hệ thống này được giao cho luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ thực hiện theo phương thức kiệm nhiệm. Đó là những “công chứng viên” không chuyên biệt. Trước khi được kiêm nhiệm chức năng công chứng, họ phải có thâm niên tối thiểu một số năm hành nghề luật sư thuộc Hiệp hội Luật sư hoặc đã có một thời gian làm hộ tịch viên hay cố vấn pháp lý của Giáo hội. Ngoài ra, một số nhân viên ngoại giao và lãnh sự cũng được giao thẩm quyền thực hiện một số việc công chứng ở nước ngoài. Các nước có công chứng theo mô hình này gồm: Vương quốc Anh, các nước trong Liên hiệp Anh; Hoa Kỳ (trừ bang Louisane), Đan Mạch, Canada (trừ Bang Quebec), Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapor, Thái Lan, Đài Loan.....

Khi thực hiện công chứng, các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của Giáo hội chỉ chú trọng đến tính xác thực về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách hàng, xác định đúng thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự kiện pháp lý hoặc thoả thuận của các bên hoặc ý chí của người yêu cầu công chứng, không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không cần biết thoả thuận có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu có điều khoản nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba. Trong khi thực hiện công chứng, người thực hiện công chứng không có nghĩa vụ phải tư vấn vô tư và làm cân bằng lợi ích của các bên; luật sư có thể tư vấn thiên vị cho một bên nào đó hoặc có thể từ chối thực hiện công chứng nếu thấy thù lao không thoả đáng. Mỗi bên tham gia hợp đồng, được trợ giúp bởi cố vấn của mình, đều tìm kiếm lợi ích riêng của mình mà không cần quan tâm thật sự tới thiệt hại của đối phương. Do vậy, những hợp đồng, văn bản được lập và chứng nhận bởi những người kiêm thực hiện công chứng (như các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý) mang lại sự an toàn pháp lý thấp, không được coi là chứng cứ xác thực, hiển nhiên trước Toà án, không có giá trị cưỡng chế thi hành như một phán quyết của toà án, văn bản công chứng chỉ được coi là nguồn chứng cứ trước toà, vẫn cần phải điều tra xác minh, có tỷ lệ tranh chấp xảy ra nhiều hơn so với các hệ thống công chứng khác.

Hiện nay, tổ chức và hoạt động của các luật sư theo hệ Anglo-saxon (kiêm công chứng viên) trong nền kinh tế hiện đại đang đặt ra một yêu cầu cải cách theo hướng xích lại gần khuôn mẫu công chứng La tinh. Trong những năm gần đây, các nước theo hệ thống công chứng Anglo-saxon đã cử đại diện tham dự Đại hội Liên đoàn công chứng La tinh quốc tế, tham gia các cuộc hội thảo của Liên đoàn; các Bang Tecxac và Caliphornia của Hoa Kỳ, thành phố Luân Đôn của Vương Quốc Anh đã nhận thấy sự ưu việt của hệ công chứng La tinh và đang chuẩn bị các điều kiện để thiết lập thể chế công chứng theo mô hình công chứng La tinh.

Sau khi nghiên cứu, phân tích các đặc điểm cơ bản của hệ thống công chứng Anglo-sacxon, chúng ta nhận thấy hệ thống này có những ưu điểm, nhược điểm chính sau đây:

 

5. Ưu điểm của mô hình công chứng Anglo-saxon

- Đó là một cơ chế thực dụng, rất mềm dẻo, dễ thích ứng với các hoàn cảnh cụ thể của từng hợp đồng, giao  dịch;

- Trình tự thủ tục đơn giản, các nhu cầu về công chứng, thị thực nhanh chóng được giải quyết. Người yêu cầu công chứng, nhất là các doanh nhân có thể chớp được cơ hội kinh doanh;

- Kích thích được tính năng động và quyền tự quyết của các bên trong hợp đồng, giao dịch;

 

6. Nhược điểm của mô hình công chứng Anglo-saxon

- Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạt động công chứng rất mờ nhạt. Nhà nước không có một chế độ kiểm tra chặt chẽ đối với các hoạt động công chứng, cũng không ấn định mức lệ phí mà khách hàng phải trả cho những người kiêm chức năng công chứng viên; họ có quyền tự do thỏa thuận với khách hàng về mức thù lao áp dụng cho mỗi vụ việc công chứng;

- Dịch vụ pháp lý được thực hiện như một sản phẩm đặt dưới luật chơi của thị trường áp đặt cho những người hoạt động pháp luật; không tạo ra sự bình đẳng về quyền được hưởng dịch vụ công giữa người giầu và người nghèo. Việc giao kết các thỏa thuận hợp đồng xuất phát từ quan hệ sức mạnh giữa các bên, không có được một giải pháp cân bằng về lợi ích của các bên. Người giàu thì xuất hiện với tư thế là người áp đặt quan điểm, người nghèo bao giờ cũng bị lép vế, thua thiệt;

- Văn bản công chứng không đạt được một sức mạnh chứng cứ và hiệu lực cưỡng chế thi hành như một văn bản của cơ quan công quyền;

- Trách nhiệm vật chất của người thực hiện công chứng rất mờ nhạt;

- An toàn pháp lý thấp, làm gia tăng các tranh chấp. Chi phí cho kiện tụng gia tăng, đánh vào ngân quỹ của khách hàng và phí bảo hiểm không ngừng tăng lên.

Cho đến nay, hệ  thống công chứng này đã tỏ ra lỗi thời, không phù hợp với xu hướng xã hội hiện tại. Tuy nhiên, nước ta là một trong số ít nước còn lại vẫn bị ảnh hưởng của mô hình này.

 

6. Một số câu hỏi thường gặp về mô hình công chứng

6.1 Về vai trò của công chứng viên trên thế giới?

Hệ thống công chứng của Pháp, Tây Ban Nha, Đức và Trung Quốc quy định CCV có vai trò "thẩm phán hợp đồng", công lý phòng ngừa. Bốn hệ thống pháp luật này mang lại giá trị chứng minh và hiệu lực thi hành cho văn bản công chứng, điều này rất quan trọng đối với hòa bình xã hội vì chúng mang đến cho người dân sự đảm bảo về pháp luật cho tất cả các thủ tục dân sự cần thiết: hôn nhân, thừa kế, quyền sở hữu đất và thành lập kinh doanh. CCV không chỉ soạn văn bản mà còn là nhân chứng có đặc quyền của văn bản công chứng được các bên nhất trí. CCV cũng không phải là nhân viên tư vấn của một bên để gây thiệt hại cho bên kia mà là chuyên gia khách quan và không thiên vị để lập ra những hợp đồng công bằng vì lợi ích của tất cả mọi người. Về quyền sở hữu, CCV đảm bảo sự an toàn gần như tuyệt đối cho người nắm giữ quyền này. Nhờ đó, ở các nước phương Tây, các tranh chấp về quyền sở hữu gần như không tồn tại.

Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hệ thống công chứng đem lại cho CCV vai trò của nhân chứng và cán bộ chứng nhận. Họ chỉ có quyền yêu cầu thi hành nghĩa vụ trả tiền.

 

6.2 Căn cứ để thực hiện công chứng?

Pháp luật của nhiều nước có quy định tương đối thống nhất về vấn đề này, đó là có hai căn cứ để thực hiện việc công chứng: công chứng theo yêu cầu và công chứng bắt buộc. Theo đó, một số loại hợp đồng, giao dịch sẽ bắt buộc phải công chứng, số còn lại thì được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

Pháp luật Tây Ban Nha quy định một số hợp đồng, giao dịch nhất định phải bắt buộc phải công chứng, nếu không qua thủ tục công chứng thì hợp đồng không có hiệu lực thi hành, như hợp đồng hôn nhân, hợp đồng liên quan đến tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, tặng cho tài sản… được quy định rõ trong Bộ Luật dân sự để bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch. Tương tự như vậy, tại Nhật Bản các hợp đồng cho thuê thương mại hoặc sắp xếp giám hộ tự nguyện phải được CCV soạn thảo và chứng nhận thì mới có giá trị pháp lý và tính ràng buộc.

Tuy nhiên, ngoài các hợp đồng bắt buộc phải công chứng, các hợp đồng, giao dịch khác do sự tự nguyện của người dân (hợp đồng tùy nghi) thì văn bản công chứng sẽ không được Tòa án coi là một chứng cứ hiển nhiên mà chỉ coi đó là một sự kiện pháp lý. Trung Quốc là một trong các nước đi theo hướng quy định này.

 

6.3 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng?

– Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

– Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác.

– Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

– Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.