Mục lục bài viết
- 1. Khái quát
- 2. Nguyên tắc pháp chế
- 2. Nguyên tắc nhân đạo
- 3. Nguyên tắc cá thể hóa
- 4. Nguyên tắc công bằng
- 5. Các căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn
- 6. Quy định của bộ luật hình sự
- 7. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
- 8. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
- 8. Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
1. Khái quát
Các nguyên tắc của pháp luật hình sự được thể hiện trong Bộ luật hình sự. Khi giải quyết vụ án hình sự, các nguyên tắc áp dụng hình phạt sẽ được áp dụng để giải quyết và xử lý người phạm tội đảm bảo quyền con người. Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự chi phối hoạt động áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dụng và áp dụng pháp luật hình sự thể hiện quan điểm đường lối chính sách của hình sự của nước ta trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Tòa án tuyên hình phạt công bằng, tương xứng là cơ sở để làm nổi bật được mục đích hình phạt được. Do đó, Tòa án phải dựa trên các nguyên tắc và căn cứ cơ bản. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn hình thành cơ sở từ áp dụng hình phạt.
Theo lý luận về nghiên cứu khoa học chế định quyết định hình phạt của T.S Dương Tuyết Miên định nghĩa “ Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án quyết định hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội”. Từ bản chất pháp lý đó rút ra khái niệm nguyên tắc áp dụng hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án áp dụng hình phạt đúng đắn đối với người phạm tội. Căn cứ vào bản chất của vấn đề áp dụng hình phạt, Học viên cho rằng nguyên tắc áp dụng hình phạt tù có thời hạn là những tư tưởng chỉ đạo dựa trên nguyên tắc áp dụng hình phạt để Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội một cách đúng đắn. Với các nguyên tắc dưới đây:
2. Nguyên tắc pháp chế
Nguyên tắc pháp chế XHCN là nguyên tắc được áp dụng trong toàn bộ các hoạt động lập pháp pháp luật hình sự và cả trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định về hướng tổ chức và hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Nguyên tắc này đòi hỏi phải thực hiện các bảo đảm để tăng cường pháp chế khi tiến hành các hoạt động tố tụng hướng tới mục đích xác định sự thật khách quan vụ án; tôn trọng, bảo vệ quyền con người; bảo vệ trật tự pháp luật; bảo vệ quyền lợi ích của thể nhân, pháp nhân, nhà nước và xã hội.Với nguyên tắc này mang những tư tưởng chủ đạo, cơ bản mang tính xuất phát điểm về sự triệt để tuân thủ pháp luật hình sự một cách nghiêm chỉnh thống nhất của cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật hình sự.
Nguyên tắc pháp chế trong chế định áp dụng hình phạt tù có thời hạn phản ánh những nội dung cơ bản sau: Bộ luật hình sự quy định rõ “ Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Nguyên tắc pháp chế XHCN được quy định chặt chẽ trong luật và chỉ có luật thì mới có thể xác định hình phạt cho mỗi tội phạm.Văn bản quy phạm pháp luật quy định tất cả các nội dung liên quan đến hình phạt và áp dụng các loại hình phạt trong đó có hình phạt tù có thời hạn rõ ràng, minh bạch các nội dung như điều kiện, phạm vi áp dụng, giới hạn tối thiểu, giới hạn tối đa của hình phạt. Văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở quan trọng đảm bảo tính thống nhất, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân không bị xâm phạm tùy tiện của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tội phạm là cơ sở pháp lý và là cơ sở thực tế duy nhất cho phép áp dụng hình phạt, trong đó có hình phạt tù có thời hạn. Do đó, những hành vi không phải là tội phạm hình sự được BLHS quy định sẽ không được phép áp dụng hình phạt tù có thời hạn và càng được áp dụng hình phạt tù có thời hạn, khi hình phạt này không được quy định trong chế tài của điều luật trong một tội phạm cụ thể được quy định ở phần các tội phạm trong BLHS.
2. Nguyên tắc nhân đạo
Quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện đạo lý về tình thương con người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong việc xây dựng nền tảng của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, tư tưởng nhân đạo càng được thể hiện sâu sắc hơn bao giờ hết. Trong BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 có thể thấy tư tưởng nhân đạo được phản ánh rõ nét, là tư tưởng xuyên suốt trong quan điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng và Nhà nước ta. Tư tưởng này được xác định là kim chỉ nam trong suốt lịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau. Trong BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, tư tưởng nhân đạo một lần nữa được thể hiện rõ nét và sâu sắc, thể hiện được bản chất giai cấp của nhà nước ta trong từng chế định pháp luật cụ thể.
Trong chế định áp dụng hình phạt nói chung, áp dụng hình phạt tù có thời hạn nói riêng đã đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc áp dụng hình phạt nào đối với người phạm tội, truyền tải trong chính sách tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì nguyên tắc nhân đạo được đưa ra xem xét để quyết định mức hình phạt phù hợp đầy tính nhân văn, khoan hồng của Nhà nước. Nguyên tắc nhân đạo thể hiện mục đích áp dụng hình phạt tù có thời hạn là nhằm cải tạo người phạm tội, giáo dục để họ trở thành người lương thiện có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chứ không nhằm mục đích trừng trị. Nhân đạo trong áp dụng hình phạt tù có thời hạn còn thể hiện từ góc độ khi xem xét hành vi phạm tội của họ, Nhà nước luôn chú ý đến nhiều khía cạnh như độ tuổi, tình trạng sức khỏe, nhân thân người phạm tội như mang thai, hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn; nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án với người thành niên phạm tội tương ứng. Luật Hình sự nước ta thấm nhuần tư tưởng, đạo đức này trong cả quyết định mức hình phạt phù hợp. Điều 3 BLHS năm 2015 quy định nguyên tắc xử lý đối với người bị kết án tù có thời hạn thì họ buộc phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nguyên tắc nhân đạo đưa ra cái nhìn hướng thiện khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Người áp dụng hình phạt khi xét về các điều kiện cho để cho hưởng mức án tù có thời hạn quyết định mức thời gian cải tạo tại trại giam sao cho người phạm tội thấy được hậu quả của hành vi phạm tội của mình đồng thời thấy được tính nhân đạo từ pháp luật của Nhà nước
3. Nguyên tắc cá thể hóa
Nguyên tắc cá thể hóa được hiểu là trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra đối với cá nhân người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm được quy định trong Luật hình sự. Người phạm tội sẽ phải chịu hình phạt từ biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với cá nhân. Chính cá nhân người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về chính hành phạm tội của mình chứ người thân thích trong gia đình hay bất cứ người nào không thể thay thế được cho người phạm tội bỏ trốn. Theo đó, hình phạt có mối quan hệ ảnh hưởng về mặt pháp lý trong các mối quan hệ Nhà nước và người phạm tội. Vì thế, không có sự can thiệp về pháp luật hình sự đối với người thứ ba hoặc đối với các tổ chức, pháp nhân không có lỗi trong việc thực hiện tội phạm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn không mang tính chất thay thế cho người phạm tội. Nguyên tắc pháp lí, đòi hỏi các cơ quan xét xử phải xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ để áp dụng hợp lí và có chọn lọc những biện pháp cưỡng chế hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội. Mục đích của nguyên tắc cá thể hóa TNHS là bảo đảm các biện pháp cưỡng chế, trong đó có áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với từng người phạm tội một cách chính xác, công bằng, hợp lí. Áp dụng đúng đắn nguyên tắc cá thể hóa TNHS là tiền đề quan trọng để cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa những người khác phạm tội, bảo vệ quyền con người trong xã hội nước ta. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn thể hiện nguyên tắc này với các biểu hiện: Hầu hết các loại tội phạm đều có quy định về áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tùy vào tính chất mức độ hành vi phạm tội người phạm tội sẽ phải chịu các khung hình phạt khác nhau đó là tội phạm ít nghiêm trọng mà tù có thời hạn không quá 3 năm; tội phạm nghiêm trọng mà hình phạt tù có thời hạn từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng mà hình phạt tù có thời hạn từ từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà hình phạt tù từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Trong vụ án hình sự nếu có đồng phạm cần phải xét về vai trò, vi trí của từng người tham gia để quy trách nhiệm cá nhân cho từng đồng phạm khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
4. Nguyên tắc công bằng
Điều 3 BLHS năm 2015 quy định “…b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;…”, trên tinh thần của BLHS năm 2015 áp dụng hình phạt tù có thời hạn cũng được vận dụng chỉ đạo, định hướng bằng cách những người phạm tội được đối xử công bằng và tương xứng giữa trách nhiệm hình sự chịu hình phạt tù với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Đối với áp dụng hình phạt tù có thời hạn tuyên án quá nặng, thời gian cải tạo lâu dài thì tạo tâm lý oán hận chống đối xã hội của người phạm tội mà hình phạt nhẹ quá, thời gian cải tạo ngắn làm mất niềm tin của công dân vào Nhà nước, pháp luật. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn thực hiện nguyên tắc công bằng trên nền tảng công lý, pháp luật. Người bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn được công bằng đảm bảo các quyền lợi như nhau,
5. Các căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn
Để áp dụng một trong các hình phạt chính được quy định trong BLHS thì người tiến hành tố tụng khi áp dụng cần có sự xem xét trên các căn cứ để quyết định một hình phạt tương xứng với mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, đạt được mục đích của hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Cũng như áp dụng hình phạt chính khác, áp dụng hình phạt tù có thời hạn cần phải căn cứ vào những căn cứ nhất định đã được luật hình sự quy định. Trên tinh thần quy định về căn cứ quyết định hình phạt của BLHS năm 2015 tại Điều 54 quy định thì căn cứ quyết định hình phạt tù có thời hạn cũng dựa trên những quy định này. Cụ thể:
6. Quy định của bộ luật hình sự
Quy định Bộ luật hình sự là căn cứ pháp lý cơ bản, quan trọng nhất để Tòa án xác định tội danh, khung hình phạt tù và mức phạt tù cụ thể. Bộ luật hình sự có những quy định chung, quy định về tội phạm và hình phạt, quy định về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và quy định áp dụng tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi… Đây là những căn cứ để định hướng cho hoạt động áp dụng hình phạt tù có thời hạn tuyên một mức án đúng pháp luật, thỏa đáng và phù hợp. Những quy định của BLHS đảm bảo áp dụng hình phạt tù có thời hạn một cách thống nhất, không tùy tiện đồng thời đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý khi áp dụng hình phạt này. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn không được theo ý muốn chủ quan của người tiến hành tố tụng mà dựa trên các điều luật đã quy định một người phạm vào một trong các tội danh quy định của BLHS, căn cứ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ để định khung hình phạt và quyết định hình phạt tù có thời hạn phù hợp. Căn cứ vào BLHS để áp dụng hình phạt tù có thời hạn chính là thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, những gì luật quy định thì phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Bộ luật hình sự quy định về xác định tội danh, mức hình phạt cụ thể và hình phạt tù có thời hạn được lựa chọn áp dụng không phải một cách tùy nghi, không phải muốn áp dụng mức nhẹ hơn hoặc nặng hơn mà phải theo luật quy định. Có như vậy mục đích áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với một người phạm tội được thực hiện hiệu quả, dư luận đồng tình.
7. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Các hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội được xác định là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ. Dựa trên quan điểm lập pháp của nhà nước cho rằng hành vi, hậu quả đã xảy ra hoặc có thể xảy ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ. Do đó, để nhận định được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cần xác định dấu hiệu thực tế khách quan của hành vi và hậu quả của chúng. Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang kể ở mức độ nào là căn cứ để quy tội phạm theo tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và để từ đây định khung, mức hình phạt tù có thời hạn. Những hành vi nguy hiểm cho xã hội không đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ được áp dụng bằng hình thức xử lý khác. Xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để từ đó áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo khung hình phạt mà BLHS quy định. Việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội sẽ được cân nhắc sau khi Toà án đã có cơ sở xác định bị cáo phạm tội gì, tại điều nào, khoản cụ thể nào của BLHS. Biểu hiện của sự cân nhắc này thể hiện ở:Động cơ, mục đích, cân nhắc lỗi của người phạm tội, phương tiện phạm tội; thủ đoaạn phạm tội; thời gian và địa điểm phạm tội; khách thể xâm hại…
8. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội
Nhân thân của người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn liên quan đến trách nhiệm hình sự của họ. Người phạm tội mang những đặc điểm đặc trưng, dấu hiệu nói lên bản chất của cá nhân họ. Và điều này tác hình thành nên hành vi phạm tội. Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự…Nhân thân người phạm tội tuy không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng nó lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định khung hình phạt, là một trong những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm rõ nhân thân người phạm tội để làm rõ bản chất hành vi phạm tội, xét xử đúng người, đúng tội. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội để áp dụng hình phạt tù có thời hạn
Nhân thân người phạm tội sẽ được xem xét trên các góc cạnh biết được lối sống, hoàn cảnh gia đình… để từ đó quyết định hình phạt có cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định không hay được hưởng án treo tuy xét về điều kiện hưởng án treo chưa đủ. Sau đó mới cần thiết để nghiên cứu nếu áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì nhân thân người phạm tội sẽ căn cứ quyết định khung hình phạt tù có thời hạn.
Đầu tiên, khi nghiên cứu về nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho việc định tội danh sau đó là đến định khung hình phạt tù có thời hạn. Đó là những tội phạm mà cấu thành tội phạm cơ bản hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ của những tội này có dấu hiệu phản ảnh đặc điểm nào đó về nhân thân của người phạm tội.
Tiếp theo, làm rõ nhân thân người phạm tội sẽ thấy được ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật, đánh giá được mức độ cải tạo giam giữ để áp dụng mức hình phạt tù có thời phù hợp. Hành vi ngẫu nhiên ở người này nhưng với người khác là có sự tính toán từ trước, điều này thể hiện ý thức, bản chất của người phạm tội. Bởi ý thức và hành vi của người phạm tội có sự liên kết tạo nên hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức họ nhận thức.
Thứ ba, do mối liên hệ giữa nhân thân người phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cho nên luật hình sự đã coi nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ áp dụng hình phạt. Mặt khác, luật cũng có quy định coi nhiều tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội để áp dụng hình phạt tù có thời hạn đúng là một trong những đòi hỏi quan trọng bởi giúp đánh giá được tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để có hình phạt phù hợp. Cùng một hành vi nhưng ở người này là biểu hiện ngẫu nhiên đột xuất nhưng ở người khác là hành vi có tính toán, có ý thức sâu sắc biểu hiện bản chất của người pham tội. Hành vi và con người luôn có quan hệ với nhau cho nên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng phụ thuộc vào tính chất của con người. Giữa nhân thân người phạm tội với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội có mối liên hệ với nhau. Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội làm căn cứ để tăng, giảm trách nhiệm hình sự hơn nữa đó còn là căn cứ để định khung hình phạt thể hiện được nguyên tắc công bằng, nhân đạo trong áp dụng hình phạt tù có thời hạn.
8. Căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
Làm rõ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự giúp giải quyết vụ án toàn diện trong việc quyết định áp dụng hình phạt cụ thể, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng. Cùng đó thấy được sự tính trừng trị của pháp luật cũng như tính giáo dục, khoan hồng trong pháp luật hình sự, đồng thời thể hiện rõ cả nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội. Trong quá trình áp dụng hình phạt mà cụ thể là áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội, việc nhận thức thống nhất về vai trò của các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để xem xét, cân nhắc và áp dụng chính xác các tình tiết này trong thực tiễn là yêu cầu quan trọng. Các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sẽ đánh giá được hình phạt tù có thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội có tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội thực hiện. Mỗi tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 và Điều 52 BLHS năm 2015 có tính chất, mức độ tăng nặng, giảm nhẹ khác nhau. Tình tiết tăng nặng sẽ làm cho tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội được tăng lên và có khung hình phạt cao hơn.
Tình tiết giảm nhẹ là tình tiết làm cho tính chất mức độ, nguy hiểm của hành vi phạm tội ít nguy hiểm hơn. Tình tiết giảm nhẹ TNHS sẽ có mức hình phạt nhẹ hơn so khung hình phạt cơ bản, sẽ được Tòa án xem xét mức án nhẹ hơn cho người phạm tội. Khi phân làm rõ các tình tiết giảm nhẹ se xthaays được mặt khắc quan cũng như chủ quan của cấu thành tội phạm, nhân thân người phạm tội được phán ảnh rõ để thấy được mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội so sánh với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ. Do đó, Tòa án có thể căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhẹ hơn so với mức hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự. Quy định của BLHS năm 2015 tại Khoản 1 Điều 54: Khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS thì Tòa án quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.
Trong trường hợp tội mà người phạm tội phạm phải chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt mà người đó phải chịu là khung thấp nhất của Điều luật thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn và Tòa án thể hiện rõ trong bản án.
Từ đó thấy được rằng căn cứ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo ít nghiêm khắc hay nghiêm khắc hơn trong phạm vi khung hình phạt nếu như vụ án hình sự có một trong các tình tiết này.
Như vậy, mỗi căn cứ áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên đây đều là những yếu tố khách quan, có nội dung, yêu cầu cụ thể và có tính độc lập tương đối để Toà án dựa vào khi quyết định. Các căn cứ này có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau. Đồng thời chúng cũng mang cả tính động lập trong sự tồn tại của mỗi căn cứ để khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn được khách quan, đúng đắn.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê