1. Khái quát chung

Người chưa 18 tuổi phạm tội có nguyên nhân chủ yếu từ môi trường xã hội và việc xử lý hình sự đối với người chưa 18 tuổi phạm tội cần được xem xét kỹ lưỡng và hình phạt tù là biện phạm cuối cùng và nghiêm khắc nhất để xử lý những hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi. Người dưới 18 tuổi phạm pháp xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất là nguyên nhân xã hội, nguyên nhân tổng hoà sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, quản lý nhà nước đối với xã hội nói chung.
Áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi không chỉ là việc Tòa án xác định mức hình phạt cụ thể để áp dụng đối với họ là đủ. Trình tự quy định hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi cũng nằm trong trình tự quyết định hình phạt nói chung đối với người phạm tội. Tuy nhiên, do đối tượng bị đưa ra xét xử là người dưới 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt tù cần xem xét kỹ về độ tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của họ, điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên nhân và điều kiện phạm tội và những tình tiết khác của vụ án. Chỉ áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi khi nhận thấy nếu để họ ngoài xã hội thì không có khả năng giáo dục họ trở thành người tốt cho xã hội.

2. Cơ sở chính trị - xã hội

Trước hết, tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW), trong đó Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…”. BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đã kịp thời thể chế hoá chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp.
Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện, các cơ quan tư pháp còn một số lúng túng trong việc phòng ngừa và đấu tranh chống các tội phạm này, nên việc áp dụng các loại hình phạt nói chung và hình phạt tù nói riêng có vai tròng rất qua trọng. Hình phạt với tính chất là biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nó thông thường gắn liền với việc áp dụng cưỡng chế của nhà nước. Tính cưỡng chế của hình phạt, tức là dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo, được thể hiện ở nội dung trừng trị là một đặc điểm cơ bản của hình phạt; đặc điểm này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác động xã hội khác. Nội dung trừng trị của hình phạt có thể nặng, nhẹ khác nhau, nhưng chúng đều có cùng tính chất là một loại biện pháp cưỡng chế trong hệ thống các biện pháp cưỡngchế nhà nước.
Hình phạt là một hiện tượng xã hội, sự hình thành và phát triển của nó gắn với từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội loài người, nên nó trước hết mang bản chất xã hội. Hình phạt thể hiện bản chất xã hội chủ yếu thông qua các mối liên hệ của nó với xã hội, vớicác quá trình, các hiện tượng xã hội khác, trong đó quan trọng nhất là hiện tượng tội phạm. Cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của hình phạt chính là sự tồn tại của tội phạm. Không có tội phạm thì không thể có hình phạt. Hình phạt là hậu quảpháp lý của hành vi phạm tội, là thước đo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Phải có những vi phạm điều kiện tồn tại của xã hội - tội phạm mới xuất hiện phương tiện để đấu tranh với các vi phạm đó. Như vậy, giữa tội phạm và hình phạt có mối quan hệ chặt chẽ, đó chính là mối quan hệ nhân - quả. Quan niệm như thế nào về tội phạm thì sẽ có một phạm vi tác động cưỡng chế hình sự tương ứng, sẽ có quan niệm như thế về bản chất và mục đích của hình phạt và việc áp dụng và thi hành hình phạt trong thực tiễn tương ứng. 

3. Cơ sở tâm sinh lý lứa tuổi

Người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự bị coi là tội phạm, như vậy họ trực tiếp tham gia các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự. Quan hệ này diễn ra vào thời điểm người dưới 18 tuổi chưa đủ trưởng thành về tâm sinh lý cũng như hiểu biết pháp luật. Các thủ tục tố tụng đặc biệt hết sức quan trọng để đảm bảo sự tiếp xúc với cơ quan tiến hành tố tụng thì các em được đối xử một cách thân thiện, công bằng, được tạo cơ hội và hướng dẫn để chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình, được tạo cơ hội tránh mắc phải sai phạm như vậy trong tương lai và có trách nhiệm chấp hành pháp luật.Việt Nam tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, nhất là những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội. Để có thể kết luận người dưới 18 tuổi là người phạm tội thì cần phải có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Tòa án. Bản án là kết quả của một quá trình TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử người dưới 18 tuổi. Tất cả những hoạt động này ảnh hưởng, liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi khi họ tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự và đến tính khách quan, tính pháp lý của bản án. Do vậy, chính sách hình sự còn có nội dung là những nguyên tắc, tư tưởng chỉ đạo, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Với lý do này, pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã có những quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt dành cho người dưới 18 tuổi khi họ là bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự. Những quy định này được quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2015 - một chương quy định về thủ tục tố tụng hình sự áp dụng đối với đối tượng này. Cụ thể: Những nguyên tắc tiến hành tố tụng với đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 414 BLTTHS 2015. Theo đó, để bảo đảm được mục đích giáo dục, uốn nắn, răn đe các hành vi lệch lạc, làm cho họ thấy rõ những sai phạm của mình và tự giác sửa chữa với sự giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội đòi hỏi những người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự có bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi bao gồm các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng phải là những người có trình độ, có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học lứa tuổi, như về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người dưới 18 tuổi (Điều 415). Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử những người tiến hành tố tụng cần phải xác định rõ: Tuổi, trình độ phát triển về thể chất, tâm lý lứa tuổi; mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi; điều kiện sinh sống và giáo dục; có hay không có người xúi giục phạm tội; nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Xác định rõ các yếu tố trên, thì người tiến hành tố tụng mới được cái nhìn toàn diện và chính xác về hành vi phạm tội của người chưa thành niên, từ đó đưa  ra được các biện pháp, chế tài phù hợp.
Các chính sách hình sự trong tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi là bị can, bị cáo chủ yếu là những quy định nhằm bảo đảm một cách tốt nhất quyền bào chữa cho đối tượng này, hạn chế một cách tối đa việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế, hạn chế một cách thấp nhất những tác động không thể tránh khỏi về tâm lý đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi do hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc làm rõ những nguyên nhân điều kiện phạm tội của họ để Tòa án có thể xét xử và tuyên bản án có tác động tích cực nhất đến tâm lý của đối tượng này. Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 thể hiện vai trò giáo dục, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội, về mức độ trách nhiệm hình sự của bị can, bị  cáo dưới 18 tuổi nhẹ hơn so với bị can, bị cáo trên 18 tuổi. Trên đây là một số giải pháp, kiến nghị mà chúng tôi đưa ra nhằm thay đổi nhận thức, nâng cao vai trò, trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng khi giải quyết những vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện.

4. Cơ sở pháp lý

Pháp luật hình sự là bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng được quy định bởi cơ sở kiến trúc hạ tầng. Quy định hành vi nào là tội phạm và xử lý bằng loại hình phạt nào là thuộc về chính sách hình sự của Nhà nước, song chính sách đó “lại hoàn toàn không phải là sản phẩm của ý muốn chủ quan mà nó được quy định bởi nhu cầu xã hội đối với việc điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội”. Như vậy, cũng như tội phạm, hình phạt cũng phản ánh rõ nét nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn phát triển của nó.Nguyên tắc pháp chế trong việc quy định hình phạt - không có luật thì không có hình phạt có giá trị tuyệt đối, được áp dụng đối với tất cả các loại hình phạt và không có ngoại lệ. Nói hình phạt được văn bản pháp luật quy định có nghĩa là tất cả các nội dung liên quan đến hình phạt đều phải do văn bản pháp luật quy định và việc quy định các loại hình phạt áp dụng phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác. Điều đó có nghĩa là, trong điều luật quy định về mỗi loại hình phạt, nhà làm luật cần phải quy định rõ ràng, đầy đủ và minh bạch nội dung của hình phạt, tránh tình trạng như hiện nay đối với một số hình phạt.
Nguyên tắc pháp chế không chỉ ở khía cạnh quy định hình phạt, mà còn thể hiện ở hiệu lực thi hành của hình phạt. Trong bộ máy nhà nước, chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có phải chịu hình phạt hay không và nếu phải chịu thì loại và mức hình phạt cụ thể được áp dụng như thế nào. Nghiên cứu cho thấy, trong các lĩnh vực khác không phải hình sự không bắt buộc Tòa án phải giải quyết, các đương sự có thể lựa chọn cách giải quyết khác, không thông qua Tòa án. Còn trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án phải thông qua các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt. Điều này xuất phát từ hậu quả pháp lý của việc giải quyết vụ án hình sự có ảnh hưởng rất lớn đến người phạm tội, biểu hiện cụ thể qua việc quyết định hình phạt như đã trình bày ở trên.
Trên bình diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, thì Hiến pháp và pháp luật luôn coi người dưới 18 tuổi là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khi họ là chủ thể của tội phạm cũng như khi họ là nạn nhân của tội phạm. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung và tội phạm dưới 18 tuổi nói riêng, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tội phạm và trách nhiệm hình sự (hình phạt, các biện pháp tư pháp, miễn hình phạt, án tích) là những chế định cơ bản, trung tâm của Luật hình  sự. Theo nguyên tắc chung, tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hình sự chính là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước. Với ý nghĩa đó, trách nhiệm hình sự được đặt ra nhằm bảo đảm cho hoạt động xử lý người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội một cách kịp thời, nhanh chóng và công minh. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi tập trung phân tích, luận giải, đánh giá những điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội. Thiết nghĩ việc làm này là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề quyền của người dưới 18 tuổi đang được dư luận xã hội quan tâm, đặc biệt là trong trường hợp người dưới 18 tuổi trở thành đối tượng tác động của các hoạt động tố tụng hình sự.

5. Chuẩn mực quốc tế

Công ước quốc tế về quyền Trẻ em (Unite Nations Convention on the rights of the Child) năm 1989 đa ̃quy đinḥ các chuẩn mực quốc tế về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi và những hướng dẫn cụ thể về các hệ thống tư pháp đối với người dưới 18 tuổi. Trong số những văn bản chủ đạo liên quan đến hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên (dưới 18 tuổi) như: Công ước quyền Trẻ em, Quy tắc Bắc Kinh, Hướng dẫn Riyadh, Quy tắc Havana và Hướng dẫn Vienna, các quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện những quy định của Công ước quyền Trẻ em, bởi vì đó là một văn bản ký kết có tính ràng buộc.
Các văn bản quốc tế cũng khẳng định rõ việc cấm tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn tệ, vô nhân đạo hay làm mất phẩm giá đối với trẻ em, đồng thời nêu rõ là không được áp dụng hình phạt tử hình hay tù chung thân, hình phạt không có khả năng phóng thích đối với những hành vi phạm pháp luật do người chưa đủ 18 tuổi thực hiện. Trong trường hợp người dưới 18 tuổi bị tước quyền tự do, viêc ̣quyết đinḥ hình phạt và thực thi phải đảm bảo các yêu cầu:Trẻ em phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng phẩm giá của conngười, đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt. Trẻ em được giả định vô tội cho tới khi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng minh rằng trẻ đã phạm tội theo luật pháp. Trẻ được thông báo nhanh chóng và trực tiếp về những điều mà trẻbị buộc tội và trong trường hợp trẻ vi phạm pháp luật phải thông báo qua cha mẹ hay người giám hộ pháp lý, được trợ giúp về mặt pháp lý để chuẩn bị và trình bày sự biện hộ cho trẻ. Vấn đề trẻ có phạm tội hay không phải được xác định không trì hoãn cơ quan có thẩm quyền độc lập và vô tư trong một cuộc xét xử công bằng, minh bạch theo pháp luật.Trẻ em không bị ép buộc phải làm chứng hoặc nhận tội, được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những người làm chứng chống lại mình, trẻ còn có quyền được tham gia và thẩm vấn của những người làm chứng cho mìnhtrong những điều kiện bình đẳng.Nếu trẻ bị coi là đã vi phạm luật hình sự thì có quyền đòi hỏi quyếtđịnh và những biện pháp thi hành theo quyết định, trẻ có quyền yêu cầu cơ quan tư pháp có thẩm quyền cao hơn xét xử lại theo hệ thống pháp luật.Trong trường hợp trẻ không biết, không hiểu ngôn ngữ được sử dụng trong cơ quan tư pháp trẻ được giúp đỡ phiên dịch miễn phí.Trong quá trình tham gia tố tụng và bị bắt giam mọi điều riêng tư của trẻ em được hoàn toàn tôn trọng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê