Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Theo Davis và cộng sự (1982), có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất kế toán, bao gồm: bản chất thông tin, bản chất kinh tế, bản chất chính trị và bản chất xã hội. Các quan điểm này không những không loại trừ nhau mà còn bổ sung, hỗ trợ nhau đóng góp cho việc nghiên cứu kế toán ngày càng sâu, rộng và phát triển hơn. Bằng việc lược khảo các công trình nghiên cứu trước, tổng quan kế toán đo lường GTHL quốc tế và Việt Nam, và từ cơ sở lý thuyết nền. Tác giả tổng hợp, phân tích, xây dựng được các nhân tố và các chỉ báo tác động đến đo lường GTHL trong kế toán của các ngân hàng TMCP tại Việt Nam

2. Yếu tố kinh tế
Nhóm yếu tố này liên quan đến nền kinh tế nói chung, trong đó các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh có tác động trực tiếp đến quá trình hình thành và phát triển hệ thống tại các quốc gia, một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế toán là phải thể hiện được các thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định về kinh tế, do đó, hệ thống kế toán của một quốc gia trước hết phản ánh những đặc thù trong môi trường kinh doanh của quốc gia. Trong đó: nguồn cung cấp tài chính tác động đến cách thức và mức độ cung cấp thông tin kế toán. Tại các quốc gia mà nguồn tài chính cho doanh nghiệp chủ yếu từ thị trường vốn, hệ thống kế toán hướng đến việc công bố thông tin nhiều hơn, kiểm toán và trình bày hợp lý (Nobes & Parker, 1995); Cấu trúc doanh nghiệp cũng được xem là một nhân tố có ảnh hưởng đến kế toán. Khi quy mô kinh doanh và mức độ phức tạp của hoạt động doanh nghiệp tăng lên, hệ thống kế toán đòi hỏi phát triển những công cụ tương ứng (Robert et al, 1998).
Do đó, GTHL ra đời từ nhu cầu cung cấp thông tin hữu ích của nền kinh tế phát triển toàn cầu, ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu về GTHL đều cho rằng việc đo lường kế toán theo GTHL gặp nhiều khó khăn do tác động của yếu tố kinh tế,thị trường tài chính Việt Nam cũng chưa đủ phát triển để có thể đánh giá một cách tin cậy, toàn diện các thông tin về giá trị hợp lý, cụ thể: Ths. Lê Hoàng Phúc (2012) cho rằng nền kinh tế thị trường Việt Nam, thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, nhiều dữ liệu tham chiếu chưa có, nếu áp dụng ngay toàn bộ theo chuẩn mực quốc tế sẽ ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin được định giá theo GTHL. Do vậy, việc định giá theo GTHL cần tính toán phù hợp với đặc điểm kinh tế của từng giai đoạn.Trần Thị Phương Thanh (2012) nền kinh tế Việt Nam chưa hoàn toàn là nền kinh tế thị trường, vẫn còn một số ngành độc quyền như xăng, dầu, điện…dẫn đến thông tin giá cả không được công bố minh bạch, rõ ràng để doanh nghiệp có căn cứ xác định GTHL.ThS. Trịnh Đức Vinh, 2015, thị trường hoạt động (active market) của Việt Nam chưa đủ mạnh, các căn cứ phục vụ cho việc xác định giá trị hợp lý của một số tài sản và nợ phải trả chưa thực sự đáng tin cậy, nhất là trong bối cảnh tính tuân thủ luật pháp của một bộ phận doanh nghiệp chưa cao, dẫn đến tình trạng cố tình bóp méo các thông tin được công bố theo ý định chủ quan của người quản lý, điều hành phát sinh từ việc thực hiện các ước tính kế toán một cách không trung thực.
3. Yếu tố pháp lý
Nhóm yếu tố pháp lý có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống kế toán của các quốc gia.
Cụ thể:
Hệ thống pháp luật được xem là một yếu tố tác động lớn đến hệ thống kế toán. Các quốc gia thuộc nhóm thông luật (common law) thường ít ban hành những quy định chi tiết về kế toán hơn các quốc gia thuộc hệ thống điển luật (code law) (Nobes & Parker, 1995).
Hệ thống thuế cũng như quan hệ giữa thuế và kế toán là một nhân tố tác động đáng kể đến hệ thống kế toán. Robert et al (1998) chia thành ba nhóm quốc gia: nhóm có hệ thống kế toán và hệ thống thuế hoàn toàn độc lập như Hoa Kỳ, Anh; nhóm có hệ thống kế toán và hệ thống thuế chung một hệ thống, trong đó hệ thống thuế quy định chi tiết và kế toán phải theo các quy định của thuế, ví dụ như Pháp, Đức và nhóm có hệ thống thuế đơn giản được dựa trên thông tin của hệ thống kế toán như các quốc gia đang phát triển trong khối thịnh vượng chung.
Thông tin kế toán là thông tin dễ sai do tính chủ quan của người lập, hoặc do động cơ hay mục đích của nhà quản trị trong việc công bố thông tin do đó dẫn đến thông tin bất bối xứng. Ở Việt Nam, nhà nước là tổ chức lập quy, ban hành các quy định liên quan đến kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu cho tất cả các thành phần kinh tế, các lĩnh vực kinh doanh, và lợi ích chung của xã hội. Như vậy, vấn đề đặt ra:
-Việt Nam có quy định nhất quán về GTHL là cơ sở đo lường chủ yếu trong kế toán?
- Có các chuẩn mực kế toán, thông tư quy định hướng dẫn về cách tính GTHL hay không?
- Việt Nam có cập nhật các quy định của chuẩn mực kế toán về GTHL?
Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều nhận định rằng môi trường pháp lý có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng GTHL trong kế toán. Có thể tìm thấy quan điểm này trong nghiên cứu của các tác giả Lê Hoàng Phúc (2012), Trần Thị Phương Thanh (2012), Nguyễn Thanh Tùng (2014), Renata Dylas và cộng sự (2011)
4. Yếu tố nguồn nhân lực
Yếu tố nguồn nhân lực ở đây đề cập đến Nhà quản lý và người hành nghề kế toán Nhà quản lý có nhiệm vụ đề ra các chính sách đường lối, phương hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi các nhà quản trị ngoài trình độ chuyên môn phải có tầm nhìn xa, trông rộng để có thể đưa ra các định hướng phù hợp cho doanh nghiệp, riêng về lĩnh vực kế toán, nhà quản trị không được tự do lựa chọn chính sách kế toán hoặc tự do thực hiện BCTC mà kế toán phải được kiểm soát thông qua các quy định của Nhà nước. Trong mối quan hệ giữa nhà quản lý và cổ đông cho thấy nhà quản lý có khuynh hướng né tránh rủi ro, họ ưu tiên chọn lựa các phương án kinh doanh có rủi ro thấp để đảm bảo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, do đó, nếu việc đo lường kế toán theo GTHL gặp nhiều khó khăn, tốn chi phí hơn là lợi ích mang lại, cộng thêm mức độ rủi ro cao, nhà quản lý sẽ không sẵn lòng kết hợp với kế toán hoặc không tìm hiểu để có nhận thức về tầm quan trọng của kế toán đo lường theo GTHL, do vậy nhà quản lý cũng là một nhân tố tác động. Vấn đề đặt ra:
- Nhà quản trị có nhận thức về tầm quan trọng của đo lường GTHL trong kế toán?
- Nhà quản trị có tạo mọi điều kiện để kế toán tiếp thu kiến thức về đo lường GTHL trong kế toán?
Trong nghiên cứu của Neil Fargher và cộng sự (2012) có đề cập đến việc trước áp lực chính trị năm 2009, FASB nới lỏng quy định giá trị hợp lý để các nhà quản lý tự ý quyết định hơn trong đo lường giá trị hợp lý. Điều này cho thấy Nhà quản trị cũng là nhân tố ảnh hưởng đến đo lường GTHL trong kế toán
Bên cạnh Nhà quản trị , những người hành nghề kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, xử lý thông tin số liệu kế toán và cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật, người làm công tác kế toán yêu cầu phản ánh đầy đủ, trung thực, khách quan các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, với nhiệm vụ như trên người làm công tác kế toán phải có trình độ chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán. Với yêu cầu kỹ thuật cao của đo lường GTHL, liệu rằng người làm công tác kế toán có đáp ứng đước, vấn đề đặt ra như sau:
- Người làm công tác kế toán có am hiểu về kế toán đo lường theo GTHL không?
- Người làm công tác kế toán có điều kiện học hỏi cập nhật các chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến GTHL?
- Người làm công tác kế toán có ý thức việc tự mình nghiên cứu và học hỏi?
Yếu tố năng lực người hành nghề kế toán được đề cập trong nghiên cứu của Trần Thị Phương Thanh (2012), Nguyễn Thanh Tùng (2014)
5. Yếu tố văn hóa
Trong tác phẩm được công bố từ năm 1980, Hofstede đưa ra 5 yếu tố văn hóa quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh là khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa cá nhân, định hướng dài hạn, sự né tránh những vấn đề chưa rõ và nam tính. Dựa trên cơ sở nghiên cứu của Hofstede, Gray đã phát triển và hình thành nhóm nhân tố văn hóa ảnh hưởng đến các giá trị kế toán bao gồm: Phát triển nghề nghiệp và kiểm soát theoluật định, thống nhất và linh hoạt, thận trọng và lạc quan, bảo mật và công khai. Các đánh giá của Gray khá phù hợp với thực tế kế toán tại các quốc gia lựa chọn, ví dụ Anh là quốc gia có tổ chức nghề nghiệp mạnh và sự xét đoán nghề nghiệp cao, kế toán khá linh hoạt (cho phép nhiều chọn lựa), lạc quan (cho phép sử dụng giá thị trường) và công khai (các thuyết minh đầy đủ), ngược lại Đức là quốc gia mà hệ thống kế toán nhấn mạnh đến tính tuân thủ và tổ chức nghề nghiệp không mạnh , có khuynh hướng thống nhất, thận trọng cao (sử dụng giá gốc chủ yếu) và mức độ công khai thông tin thấp. Từ phân tích trên cho thấy kế toán đo lường theo GTHL không nằm ngoài sự tác động của yếu tố văn hóa, vấn đề đặt ra ở Việt Nam:
- Tâm lý né tránh những vấn đề không rõ ràng có là nguyên nhân chậm áp dụng kế toán đo lường GTHL?
- Tính tuân thủ, thận trọng cao nên kế toán có khuynh hướng sử dụng giá gốc hơn là GTHL?
- Mức độ công khai thông tin thấp nên thiếu cơ sở định giá để đo lường theo GTHL?
Nghiên cứu của Kathryn Bewley và cộng sự (2013) cũng chỉ ra tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong việc vận dụng GTHL ở Trung Quốc, hay Huỳnh Thị Xuân Thùy (2013), Nguyễn Thanh Tùng (2014) cũng đều khẳng định văn hóa là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kế toán
6. Yếu tố kỹ thuật công nghệ và truyền thông
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin về internet, về phần mềm xử lý đã tác động và cải thiện đáng kể công tác kế toán, giúp cho tốc độ xử lý và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng có liên quan một cách nhanh chóng, kịp thời. Thông tin kế toán ảnh hưởng đến quyết định của nhà quản trị và nhà đầu tư. Đo lường kế toán theo GTHL nhất là liên quan đến công cụ tài chính nói chung và công cụ tài chính phái sinh nói riêng đòi hỏi phải có phần mềm kỹ thuật cao mới có thể tích hợp thông tin và tính toán GTHL một cách chính xác, bên cạnh đó, truyền thông cũng góp phần không nhỏ trong việc hình thành kế toán đo lường theo GTHL, nếu không được giảng dạy, phổ biến về tính cấp thiết thì cơ sở đo lường dựa trên GTHL sẽ trở nên mờ nhạt, không được coi trọng. Một số vấn đề đặt ra:
- Kế toán đo lường theo GTHL có được giới thiệu và giảng dạy rộng rãi
- Hệ thống công nghệ thông tin có đồng bộ được dữ liệu, thu thập, xử lý nhanh chóng thông tin từ thi trường?
- Phần mềm kế toán có đáp ứng yêu cầu truy xuất thông tin thường xuyên?
7. Vai trò của tổ chức, hội nghề nghiệp
Các tổ chức lập quy liên quan đến lĩnh vực kế toán ở các nước trên thế giới là tổ chức có ý nghĩa quyết định đến việc phát triển và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán cũng như hệ thống chuẩn mực của từng quốc gia, ở một số quốc gia như Mỹ , Anh…tổ chức nghề nghiệp giữ vai trò trong phát triển các chuẩn mực. Các tổ chức lập quy ở Việt Nam thời gian qua đã đảm trách bằng việc ban hành các quy định, nguyên tắc trong hệ thống kế toán nhằm giúp hội nhập với kế toán quốc tế, điều này cũng minh chứng rõ bằng việc sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tạo dựng hành lang pháp lý lành mạnh mang tính hệ thống, hội nghề nghiệp kế toán ở Việt Nam chỉ mới phát triển trong thời gian gần đây tuy nhiên chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc bồi dưỡng kiến thức cho kế toán viên, kế toán viên hành nghề và hoạt động nghiên cứu tiếp cận các chuẩn mực kế toán quốc tế đặc biệt các chuẩn mực về công cụ tài chính và đo lường GTHL. Do đó, hội nghề nghiệp dưới góc độ tham gia xây dựng chuẩn mực và bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán cho người hành nghề cũng là yếu tố có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của kế toán đo lường theo GTHL. Điều này cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng (2014).
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê