Mục lục bài viết
1. Cách đo lường GTHL trong chuẩn mực kế toán quốc tế
1.1 Gía trị hợp lý khi sử dụng trong hệ thống IFRS được xem xét trong các trường hợp sau:
- Gía trị hợp lý là cơ sở đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu
Khuôn mẫu lý thuyết của IASB không đề cập đến GTHL như một cơ sở đo lường sử dụng trong việc xác định các yếu tố báo cáo tài chính mà chỉ đề cập đến việc có thể sử dụng giá trị hợp lý để xác định giá gốc.
Bảng 2.1 Sử dụng giá trị hợp lý trong đo lường các nghiệp vụ phát sinh ban đầu

Phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu của các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành
Bảng 2.2 Giá trị hợp lý phân bổ các số liệu ghi nhận ban đầu các giao dịch phức tạp thành các yếu tố hợp thành

Nguồn: David Cairns, 2006, "The use of fair value in IFRS"
- Giá trị hợp lý là cơ sở để xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu
Sau khi ghi nhận ban đầu, giá trị hợp lý có thể được sử dụng để xác định của các tài sản hay nợ phải trả tại mỗi thời điểm lập báo cáo tài chính.
Bảng 2.3 Giá trị hợp lý sau khi ghi nhận ban đầu

- Giá trị hợp lý được sử dụng trong đánh giá sự suy giảm giá trị tài sản
Giá trị hợp lý được sử dụng để thử nghiệm một điều là phải chăng một tài sản đang giảm giá trị và cần ghi nhận sự giảm giá trị tài sản. Theo IAS 36 “ Tổn thất tài sản”, dấu hiệu cho thấy tài sản đang giảm giá trị là khi giá trị có thể thu hồi của tài sản thấp hơn giá trị còn lại của tài sản thể hiện trên báo cáo tài chính tại thời điểm cuối niên độ. Giá trị có thể thu hồi của một tài sản hay được xác định là giá trị lớn hơn giữa giá trị hợp lý sau khi trừ đi chi phí cần thiết để bán tài sản và giá trị sử dụng của tài sản. Đây được xem như sự áp dụng giá trị hợp lý trong việc xác định sự giảm giá trị tài sản. Các khoản chênh lệch phát sinh do sự thay đổi giá trị hợp lý giữa các thời điểm báo cáo có thể được xử lý theo các phương án:
- Ghi nhận là thu nhập, chi phí trong báo cáo lãi lỗ.
- Ghi nhận điều chỉnh chỉ tiêu thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trên Bảng cân đối kế toán
- Ngoài ra các khoản chênh lệch giá đánh giá lại được tính trên cơ sở giá trị hợp lý (áp dụng với nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản vô hình) được xử lý theo nguyên tắc:
- Chênh lệch giá trị đánh giá lại của tài sản giảm (do giá trị hợp lý giảm) được ghi nhận là chi phí trên báo cáo lãi, lỗ hoặc ghi giảm vốn chủ sở hữu nếu trước đó có phát sinh chênh lệch giá đánh giá lại tăng đã được ghi nhận vào vốn chủ sở hữu.
- Chênh lệch giá đánh giá lại của tài sản tăng (do giá trị hợp lý tăng) được ghi nhận tăng vốn chủ sở hữu hoặc ghi nhận vào thu nhập nếu trước đó có phát sinh chênh lệch giá đánh giá lại giảm đã được ghi nhận vào chi phí trên báo cáo lãi, lỗ .
1.2 Xác định giá trị hợp lý
Việc xác định GTHL giả định rằng tài sản hoặc một khoản nợ phải trả được trao đổi trong một giao dịch có trật tự giữa các bên tham gia thị trường để bán tài sản hoặc chuyển giao một khoản nợ tại ngày xác định theo điều kiện thị trường hiện tại. Việc xác định giá trị hợp lý giả định rằng giao dịch để bán tài sản hoặc một khoản nợ phải trả diễn ra trong thị trường chính của tài sản hoặc nợ phải trả, hoặc nếu không có thị trường chính thì trong thị trường thuận lợi nhất cho tài sản và nợ phải trả.
Đối với các bên tham gia thị trường: DN sẽ xác định giá trị tài sản và nợ phải trả sử dụng giả định rằng các bên tham gia thị trường khi tính giá tài sản và nợ phải trả sẽ sử dụng giả định rằng các bên tham gia thị trường đó hoạt động trong lợi ích kinh tế cao nhất của họ.
Áp dụng cho tài sản phi tài chính
Xác định giá trị hợp lý cho tài sản phi tài chính phải xem xét khả năng của người tham gia thị trường tạo ra lợi ích kinh tế bằng cách sử dụng tài sản ở mức tốt nhất và cao nhất hoặc để bán cho người tham gia thị trường khác mà có thể sử dụng trong mức độ cao nhất và tốt nhất.
Áp dụng cho nợ phải trả và các công cụ vốn chủ sở hữu
Việc xác định GTHL giả định rằng một khoản nợ tài chính hay phi tài chính hoặc một công cụ vốn chủ sở hữu được chuyển giao cho các bên tham gia thị trường tại ngày xác định. Việc chuyển giao của một khoản nợ phải trả hay một công cụ vốn chủ sở hữu được giả định như sau:
a) Một khoản nợ phải trả chưa thanh tóa và các bên tham gia thị trường sẽ yêu cầu thanh toán. Một khoản nợ có thể không được giải quyết với các bên liên quan hoặc được thanh toán tại ngày xác định.
b) Một công cụ vốn chủ sở hữu chưa thanh toán và các bên tham gia thị trường chuyển nhượng sẽ có quyền và nghĩa vụ gắn với công cụ đó. Công cụ có thể không được hủy bỏ hoặc được giải quyết tại ngày xác định.
IFRS 13 đưa ra 3 cấp độ để xác định giá trị hợp lý, bao gồm:
- Cấp độ 1: Các dữ liệu tham chiếu là giá niêm yết của các tài sản hay nợ phải trả đồng nhất trong các thị trường hoạt động ( active market) mà tổ chức có thể thu thập tại ngày đo lường
- Cấp độ 2 : Các dữ liệu tham chiếu có thể thu thập cho tài sản hay nợ phải trả, trực tiếp (giá thị trường), khác giá niêm yết cấp độ 1
- Cấp độ 3: Dữ liệu tham chiếu không sẵn có tại ngày đo lường, doanh nghiệp phát triển các dữ liệu tham chiếu bằng cách sử dụng các thông tin tốt nhất đã có, mà có thể bao gồm dữ liệu riêng của doanh nghiệp.
IFRS 13 đã phát triển tính nhất quán và giảm thiểu độ phức tạp bằng cách cung cấp định nghĩa chính thức về giá trị hợp lý, thống nhất phương pháp đo lường GTHL và yêu cầu công bố thông tin để sử dụng trong hệ thống Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế.
Hệ thống thang áp dụng GTHL như trên theo mức độ sẵn có để xác định giá trị, trong đó được xếp hạng tin cậy cao nhất là có giá tham chiếu trên thị trường hoạt động và thấp nhất là hoàn toàn chỉ có thông tin nội bộ doanh nghiệp.
Nếu được áp dụng cấp độ 2 và 3 có thể được sử dụng để xác định GTHL cho các chứng khoán chưa niêm yết, tài sản vô hình phát sinh trong nghiệp vụ hợp nhất kinh doanh, các khoản dự phòng…. Việc xác định GTHL ở cấp độ 2 và 3 có thể sử dụng các kỹ thuật định giá như phương pháp thị trường, phương pháp thu nhập hay phương pháp chi phí.
Theo Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế IASB, việc xác định GTHL dựa trên 3 quan điểm: Quan điểm thị trường, quan điểm thu nhập và quan điểm giá phí.
- Quan điểm thị trường (Market approach): Giá cả thị trường quan sát được và các thông tin về các giao dịch thực tế trên thị trường sẽ được sử dụng để ước tính giá trị hợp lý của một tài sản, một khoản nợ phải trả.
- Quan điểm thu nhập (Income approach): Các phương pháp kỹ thuật sẽ được áp dụng để quy đổi các khoản tiền trong tương lai về giá trị hiện tại. (Dòng tiền vào từ việc khai thác, sử dụng tài sản hoặc dòng tiền ra để thanh toán nợ phải trả).
- Quan điểm giá phí (cost approach): Giá trị hợp lý của một tài sản được xác định trên cơ sở xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng lực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản).
2. Quy định sử dụng GTHL trong chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tại Việt Nam, Giá trị hợp lý đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay, và đầu tiên được định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá. Trong kế toán Việt Nam, Giá trị hợp lý được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.
Với phương pháp xác định giá trị hợp lý, ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán số 04 (VAS 04) - Tài sản cố định vô hình và Thông tư số 21/2006/TT- BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác định giá trị hợp lý trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay chưa có hướng dẫn chính thức và thống nhất về phương pháp xác định giá trị hợp lý trong kế toán. Ngoài ra, giá trị hợp lý cũng được đề cập đến ở Chuẩn mực số 03 - Kế toán tài sản cố định hữu hình; Chuẩn mực chung số 01; Chuẩn mực số 06 - Thuê tài sản; chuẩn mực số 10 - Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái; Chuẩn mực số 5- Bất động sản đầu tư.
3. Kết luận
Có thể thấy, Việt Nam đã từng bước được cập nhật theo phương pháp giá trị hợp lý, kết hợp kế toán theo giá gốc và đánh giá lại phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản và thời điểm lập báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, trong kế toán, giá gốc được quy định là một nguyên tắc cơ bản, vì thế vai trò của giá trị hợp lý còn khá mờ nhạt.
Giá trị hợp lý và việc sử dụng giá trị hợp lý đã có bước khởi đầu nhất định nhưng vẫn chưa thật sự được áp dụng chính thức trong kế toán, chưa có một định hướng rõ ràng về việc sử dụng giá trị hợp lý mặc dù giá trị hợp lý hiện nay đã được đưa vào Luật Kế toán số 88/2015/QH13. Trong hệ thống kế toán Việt Nam chưa sử dụng giá trị hợp lý để trình bày các khoản mục sau ghi nhận ban đầu, do đó chưa đạt được mục đích ghi nhận và trình bày các khoản mục trên báo cáo theo những thay đổi của thị trường. [PGS.TS. Ngô Thị Thu Hồng, TS.Bùi Thị Hằng-Nguyên tắc giá trị hợp lý trong luật kế toán]
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê