Khách hàng: Kính chào Luật sư Minh Khuê. Luật sư cho tôi hỏi về các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu hệ thống.

Cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

Về các nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu hệ thống như: Quan điểm, Phương pháp, Hệ điều khiển, Nguyên lý điều khiển,… chúng ta sẽ cùng nghiên cứu lần lượt ở các mục dưới đây.

1. Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm nghiên cứu của hệ thống là tổng thể các yếu tố chi phối lên kết quả của việc nghiên cứu mà người nghiên cứu phải ghi nhận (bao gồm : vị trí của người nghiên cứu, phương pháp và phương tiện mà họ sử dụng để nghiên cứu, ý đồ, lợi ích , trình độ và nhân cách của người nghiên cứu ...)

- Quan điểm macro (vĩ mô, chức năng, chiến lược) là quan điểm nghiên cứu của hệ thống nhằm trả lời các câu hỏi sau về hệ thống :

+ Mục tiêu, chức năng của hệ là gì ?

+ Môi trường của hệ thống là gì ?

+ Đầu ra đầu vào của hệ là gì ?

Đây là quan điểm nghiên cứu hệ thống của các cơ quan quản lý vĩ mô của nhà nước về kinh tế ...

- Quan điểm micro (vi mô, cơ cấu, tác nghiệp) là quan điểm nghiên cứu chi tiết nhằm trả lời các câu hỏi sau của hệ thống :

+ Phần tử của hệ thống là gì ?

+ Hệ có bao nhiêu phần tử ?

+ Giữa các phần tử có tồn tại các mối quan hệ nào ?

Đây là quan điểm nghiên cứu của các chủ doanh nghiệp.

2. Phương pháp nghiên cứu hệ thống

Phương pháp nghiên cứu là các quy tắc mà người nghiên cứu sử dụng để tìm ra quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu hệ thống trong trường hợp biết rõ được ba yếu tố: đầu vào, đầu ra và cơ cấu của hệ thống. Mô hình là sự mô tả hệ thống thông tin qua các đặc trưng cơ bản của hệ thống nhờ kinh nghiệm và nhận thức của con người. Mô hình có thể là một luận đề, một cong thức toán học, một sơ đồ vật lý hoặc một chương trình trên máy tính ... Phương pháp mô hình hoá chính là phương pháp nghiên cứu các hệ thống kinh tế của các chủ doanh nghiệp. Trình tự xây dựng phương pháp mô hình bao gồm các bước:

- Xây dựng mô hình phải nghiên cứu: Xác định ý đồ và mục tiêu nghiên cứu, quy định các đặc trưng quan trọng cần nghiên cứu, quan sát một số hành vi quan trọng của hệ thống, thiết lập ràng buộc giữa các mục tiêu, ý đồ và các đặc trưng thông qua các kết quả giám sát hành vi

- Phân tích, nghiên cứu trên mô hình lý thuyết đã thu được ở bước trên

- Đối chiếu, kết luận rút từ mô hình với kết quả thực tế để đối chứng xem kết luận rút từ mô hình lý thuyết có chuẩn xác hay không

- Chỉnh lý lại kết quả của mô hình lý thuyết cho phù hợp, sau đó đem sử dụng kết quả trong thực tế.

Phương pháp hộp đen là phương pháp nghiên cứu khi đã biết được đầu ra, đầu vào của hệ thống nhưng không nắm được chắc cơ cấu của nó. Việc nghiên cứu có nhiệm vụ xác định rõ mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của hệ thống. Trình tự của phương pháp hộp đen bao gồm :

- Quan sát đầu vào và đầu ra (thông qua thực nghiệm, hoặc sự tác động của người quan sát ở các đầu vào để đón nhận đầu ra)

- Sử dụng các phân tích vừa định tính vừa định lượng để tính ra các quy luật hình thành cơ cấu có thể có của hệ thống.

- Kiểm tra quy luật hình thành cơ cấu đã thiết lập so với thực tế

- Chỉnh lí lại kết quả và đưa vào sử dụng

Phương pháp tiếp cận hệ thống là phương pháp nghiên cứu khi rất khó nhận đoán cơ cấu, đầu vào và đầu ra của hệ thống. Cách giải quyết là phân tích hệ thống ban đầu thành một loạt các phân hệ nhỏ hơn có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau dù là yếu nhưng không thể bỏ qua. Phương pháp tiếp cận hệ thống là phương pháp nghiên cứu của những chủ thể biết chủ động sáng tạo trong nghiên cứu và nó thường kết hợp với hai phương pháp ở trên.

3. Hệ điều khiển

Điều khiển được xem như một quá trình thông tin và quá trình điều khiển của chủ thể, là quá trình đảm bảo cho hệ thống của đối tượng hướng vào mục tiêu khi điều kiện bên ngoài thay đổi.

Quá trình điều khiển là quá trình chủ thể điều khiển tác động lên đối tượng, hướng đối tượng lên mục tiêu dự định. Quá trình điều khiển gồm các bước:

- Xác định mục tiêu điều khiển : Nếu hệ thống phân cấp thì phải xác định mục tiêu chung của hệ thống, rồi cụ thể hoá thành mục tiêu cho các phân hệ và phần tử bên dưới. Lúc đó mục tiêu của bên dưới chính là phương tiện để thực hiện mục tiêu của cấp trên.

- Thu thập thông tin về đối tượng : Xác định quy luật, xu thế biến đổi, các phản ứng, các hành vi, các mục tiêu riêng, các trở ngại, các rủi ro có thể ...

- Xây dựng phương án và chọn phương án quyết định tối ưu, sau đó truyền đạt xuống cho đối tượng thực hiện (đóng vai trò đầu vào của đối tượng)

- Tổ chức điều khiển đối tượng : khi đối tượng thực hiện quyết định, phải điều chỉnh mục tiêu lúc cần thiết.

Các loại điều khiển : Căn cứ vào hành vi của đối tượng có thể chia điều khiển thành nhiều loại : Điều khiển theo chương trình ; Điều khiển có dự trữ (ổn định); Điều khiển săn đuổi; Điều khiển thích nghi; Điều khiển tối ưu.

4. Các nguyên lý điều khiển

Trong bất cứ công việc gì muốn thành công cũng phải biết và tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật có liên quan được thể hiện thông qua các nguyên lý hoạt động. Đó là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi bắt buộc mà chủ thể phải tuân thủ trong quá trình hoạt động.

- Nguyên lý mối liên hệ ngược: Đây là nguyên lý điều khiển đòi hỏi chủ thể trong quá trình điều khiển phải nắm chắc hành vi đối tươngj thông qua các thông tin phản hồi.

- Mối liên hệ ngược có hai loại:

+ Mối liên hệ ngược dương: biểu hiện ở chỗ phản ứng ở đầu ra làm tăng tác động đầu vào và đến lượt mình đầu vào lại tăng theem tác động đối với đầu ra hơn nữa ...

+ Mối liên hệ ngược âm thì trái lại, đầu ra tăng sẽ tác động trở lại kìm hãm đầu vào, hệ thống có mối liên hệ ngược âm là hệ thống ổn định.

- Nguyên lý bổ sung ngoài: Đối với các hệ thống phức tạp không thể mô tả được ngay từ lần đầu bằng một ngôn ngữ nào đó (chỗ đứng của người nghiên cứu, quan điểm, lợi ích, không gian, thời gian ... của việc xem xét hệ thống) cho dù ngôn ngữ đó có phong phú đến đâu. Do đó để mô tả hệ thống phải lấy ngôn ngữ khác từ ngoài hệ thống.

- Nguyên lý độ đa dạng cần thiết: Một hệ thống phức tạp, chủ thể nếu độc quyền xử lý thông tin, đề ra các quyết định thì thường phải đụng tới một lượng thông tin khá lớn và sẽ gặp hai kết quả hoặc là không có khả năng xử lý thông tin hoặc làm thông tin bị lạc hậu vì vậy muốn điều khiển thì chủ thể phải phân cấp việc điều khiển cho các phân hệ.

- Nguyên lý lan truyền: Đây là nguyên lý chỉ rõ khi các hệ thống có chung môi trường thì chúng có tác động qua lại với nhau, lan truyền sang nhau, hành vi của hệ này trở thành tác động của hệ kia và ngược lại.

- Nguyên lý khâu xung yếu: Đây là nguyên lý trong quá trình điều khiển, hệ thống thường xuyên xuất hiện sự đột biến ở một vài đối tượng nào đó với những mối liên hệ ngược dương hoặc âm dẫn đến sự hoàn thiện hoặc phá vỡ cơ cấu đối tượng đó, sự hoàn thiện hoặc phá vỡ này kéo theo, lan truyền sang các đối tượng khác và cả hệ thống.

5. Các phương pháp điều khiển

Biết phải làm cái gì đã là cần, nhưng phải làm cái đó như thế nào lại còn quan trọng hơn, đó là nội dung các phương pháp điều khiển.

- Phương pháp dùng kế hoạch

Đây là phương pháp điều khiển sử dụng khi chủ thể nắm khá khá chắc hành vi của đối tượng, tác động cuae nhiễu và có đủ lực lượng để tác động. Phương pháp dùng kế hoạch có hai loại : Loại kế hoạch chặt (các mục tiêu đặt ra chuẩn xác và đơn trị) và Loại kế hoạch lỏng (các mục tiêu đặt ra được lụa chon và đa trị)

- Phương pháp dùng hàm kích thích

Đây là phương pháp điều khiển, sử dụng khi chủ thể không có đầy đủ thông tin về hành vi của đối tượng về nhiễu và về lực lượng tác động của đối tượng vì vậy phải điều khiển gián tiếp bằng cách cho đầu vào của chu kỳ này của đối tượng là một hàm tỷ lệ thuận với kết quả đầu ra của của đối tượng ở chu kỳ trước. Trong kinh tế phương pháp dùng hàm kích thích chính là phương pháp sử dụng nguyên tắc phân phối theo lao động.

- Phương pháp dùng hàm phạt (dùng cơ chế thị trường)

Đây là phương pháp điều khiển sử dụng khi chủ thể không nắm được hành vi của đối tượng và có rất ít lực lượng để tác động.phải điều khiển bằng cách khống chế đầu ra của đối tượng bằng một hàm mục tiêu trong của đối tượng. Trong kinh tế phương pháp này là phương pháp thả nổi kinh tế hoặc phương pháp điều khiển theo cơ chế thị trường.

6. Các phương pháp điều chỉnh

Quá trình điều khiển thường gặp phải các tác động nhiễu đột biến, làm cho đối tượng đi chệch quỹ đạo dự kiến vì vậy chủ thể phải tác động thêm để san bằng các sai lệch đó. Việc tác động thêm này được gọi là việc điều chỉnh.

- Phương pháp khử nhiễu: Đây là việc điều chỉnh bằng việc bọc các đối tượng bằng một vỏ cách ly so với môi trường. Trong kinh tế phương pháp này chính là sự bao cấp.

- Phương pháp bồi nhiễu : Đây là phương pháp điều chỉnh bằng cách tổ chức một bộ bồi nhiễu, cứ ứng với mỗi tác động nhiễu của môi trường, bộ bồi nhiễu sẽ phát hiện và bù lại cho đối tượng nhằm san bằng sai lệch. Phương pháp bồi nhiễu trong kinh tế chính là phương pháp bù giá vào lương của chính sách một giá.

- Phương pháp xoá bỏ sai lệch : Đây là phương pháp điều chỉnh căn cứ vào kết quả cuối cùng của đối tượng đã thực hiện trong một chu kỳ hoạt động, còn các tác động của nhiễu so với mức đề ra nếu sai hụt thì dùng một quỹ đạo dự trữ lớn để thanh toán chênh lệch.

- Phương pháp chấp nhận sai lệch : Đây là cách điều chỉnh tiêu cực, thả nổi của chủ thể, do không khống chế được đối tượng, chủ thể phải thừa nhận sai lệch bằng cách tự chỉnh lại mục tiêu và bộ tác động của mình phù hợp theo các sai lệch do các đối tượng tạo ra.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).