1. Phương pháp chỉ đạo điểm
1.1. Khái niệm
Chỉ đao điểm là phương pháp chỉ đạo bằng tạo dựng mô hình, là phương pháp thực nghiệm (làm thử) ở phạm vi hẹp để rút kinh nghiệm chỉ đạo ở phạm vi rộng hơn.
Khi thực hiện một chủ trương, một nhiệm vụ, tổ chức một hoạt động hay xây dựng mới một mô hình hoạt động... để đảm bảo có hiệu quả cần thiết chỉ đạo thực hiện ở phạm vi hẹp, trên cơ sở đó đánh giá rút kinh nghiệm đế triển khai thực hiện ở phạm vi rộng hơn, tránh được những sai sót, hạn chế, khắc phục được những khó khăn cản trở trong quá trình tổ chức thực hiện ở cơ sở.
1.2. Cách chọn điểm
Tùy theo tình hình đặc điểm cụ thể của từng đơn vị, địa phương và cơ sở trong các lĩnh vực hoạt động, cộng tác khác nhau, đồng thời bám sát vào nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của đơn vị đó kết hợp với đòi hỏi thực tiễn của phong trào để chọn điểm chỉ đạo cho phù hợp. Có thể căn cứ vào mấy đặc điểm cơ bản sau đây để chọn điểm.
- Chọn điểm phải mang tính đại diện cho một vùng, miền, cho nhiều đối tượng thanh thiếu nhi.
- Những địa phương, đơn vị có một số vấn để nổi lên, cần giải quyết tháo gỡ và tập trung giải quyết.
- Điểm được chọn để chỉ đạo phải có đội ngũ cán bộ nhiệt tình, có khả năng tự tiến hành công việc khi được cấp trên giao và có sự hỗ trợ, giúp đỡ của cấp trên, hoặc những điểm có xu hướng trở thành điển hình sau khi chỉ đạo.
- Điểm được chọn phải được cấp ủy, chính quyền các ngành, đoàn thể và nhân dân đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt.
1.3. Các bước tiến hành
- Khảo sát, nắm tình hình thanh thiếu nhi và các hoạt động của tổ chức Đoàn, Hội, Đội ở điểm đã được chọn trên các mặt, phân tích sâu sắc những vấn đề có liên quan đến nội dung cần chỉ đạo.
- Lập kế hoạch chỉ đạo, thống nhất kế hoạch tiến hành với đoàn cơ sở ở điểm chỉ đạo, báo cáo kế hoạch thực hiện với lãnh đạo địa,phương.
- Tập huấn cán bộ, bồi dưỡng thêm nghiệp vụ, kỹ năng công tác cần thiết cho đội ngũ cán bộ ở điểm chỉ đạo.
- Triển khai thực hiện kế hoạch đã được thống nhất.
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, phát hiện những mâu thuẫn, xử lý tình huống, báo cáo đề xuất với các cấp lãnh đạo...
- Sơ kết từng đợt, rút bài học kinh nghiệm, bổ khuyết những lệch lạc, sai sót, điều chỉnh những bất họp lý...
- Tổng kết rút kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp nhân điển hình ra diện rộng hơn.
1.4. Một số vấn đề cần lưu ý
- Không nên nóng vội, bao biện làm thay, cố gắng giúp đỡ, động viên hướng dẫn để cán bộ ở điểm chỉ đạo chủ động tiến hành công việc.
- Thường xuyên theo dõi diễn biến mọi vấn đầ, kiểm tra, giám sát nhắc nhở, động viên, xử lý các tình huống và các vấn đề phát sinh.
- Liên kết, tạo dựng các mối quan hệ công tác, cùng phối kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể khác trong quá trình chỉ đạo, để tạo nên sức mạnh tổng hợp của các lực lượng quần chúng.
- Không nên quá ưu tiên cho điểm được chọn một cách đặc biệt, vượt xa khả năng cho phép và không phù hợp với tình hình chung của địa phương, bám sát nhiệm vụ và mục tiêu, thực hiện đến cùng không bỏ dở nửa chừng. Nếu như vậy sẽ gây mất lòng tin và uy tín cho tổ chức đoàn.
- Chú trọng phân tích nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của những mặt còn hạn chế trong quá trình chỉ đạo điểm.
- Trong trường hợp thông qua chỉ đạo điểm mà kết quả thực hiện ở điểm chỉ đạo không đạt yêu cầu do chủ trương thì cần xem xét lại chủ trương để điều chỉnh cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn.
2. Phương pháp chỉ đạo bằng kế hoạch
2.1. Khái niệm
Chỉ đạo bằng kế hoạch là phương pháp đòi hỏi thực hiện các nội dung công việc đã được dự kiến trước theo một quy trình thống nhất đảm bảo tính khoa học phù hợp với từng thời điểm nhất định, với những yêu cầu bắt buộc nhưng có tính tự giác cao.
Chỉ đạo bằng kế hoạch giúp cho cán bộ đoàn nắm được tổng thể các nội dung công việc cần phải tiên hành trong một khoảng “thời gian nào đó, hay các công việc cần tiêh hành trong một hoạt động nhất định. Trên cơ sở kế hoạch đã được thống nhất, các nội dung công việc được tiến hành một cách chủ động, liên tục theo một quy trình đã được xây dựng.
2.2. Cách chỉ đạo
- Căn cứ vào chủ trương, nghị quyết của ban chấp hành, ban thường vụ đoàn, cần lựa chọn những nội dung công việc, những hoạt động lớn để đưa vào kế hoạch trong 1 tháng, 1 quý, 6 tháng, cả năm hay cả nhiệm kỳ.
- Xây dựng mục tiêu và các hoạt động cụ thể.
- Sắp xếp và xác định thời gian, địa điểm tương ứng gắn với từng chủ đề cụ thể để định ra nội dung công việc.
- Từ yêu cầu của nhiệm vụ, nội dung công việc cụ thể để lựa chọn, bố trí cán bộ phụ trách, người thực hiện, các bộ phận phối hợp cho phù hợp...
- Xác định nguồn lực kinh phí, cơ sở vật chất, điều kiện phương tiện cho mỗi nội dung công việc.
Tiến hành kiểm tra, giám sát thường xuyên, định kỳ đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch.
Tiến hành lập kế hoạch với một trong hai hình thức cơ bản sau:
Kế hoạch bằng văn bản:
Kế hoạch bằng văn bản thường được tiến hành cho một hoạt động hay một công việc nào đó. Ví dụ: Kế hoạch tổ chức hội trại, kế hoạch tổ chức tập huấn, kế hoạch tổ chức chiến dịch truyền thông, kể hoạch tổ chức đại hội đoàn....
Kế hoạch bằng văn bản cũng được dùng cho từng mặt công tác hay toàn bộ các mặt công tác trong 1 quý, 6 tháng, 1 năm hay 1 nhiệm kỳ. Ví dụ: Kế hoạch công tác tuyên truyền giáo dục của Đoàn, kế hoạch công tác tổ chức của Đoàn, kế hoạch hoạt động phòng chống ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS....
Tùy vào tính chất, nội dung của kế hoạch cụ thể mà kế hoạch được xây dựng theo các phần sau:
- Những căn cứ xây dựng kế hoạch.
- Mục tiêu, yêu cầu.
- Nội dung hoạt động.
- Thời gian, địa điểm, hình thức, quy mô, thành phần tham gia.
Kế hoạch bằng lập bảng với các nội dung cơ bản sau:
Bảng kế hoạch có thể dành cho một hoạt động hay một công việc nào đó; cho từng mặt công tác hay toàn bộ các mặt công tác trong 1 quý, 6 tháng, 1 năm hay 1 nhiệm kỳ .
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Cột 1: Số thứ tự.
Cột 2: Nội dung công việc.
Cột 3: Thời gian tiên hành.
Cột 4: Địa điểm tiến hành.
Cột 5: Người phụ trách.
Cột 6: Đơn vị phối kết hợp.
Cột 7: Kinh phí cơ sở vật chất.
Cột 8: Hiệu quả cần đạt được (kết quả mong đợi).
Cột 9: Ghi chú.
Một số điểm cần lưu ý
- Kế hoạch cần được bàn bạc, thống nhất cao ở cấp lãnh đạo và được quán triệt đến tất cả các thành viên (những người có liên quan đến công việc).
- Những người được phân công phụ trách từng nội dung công việc cần chủ động lập kế hoạch riêng cho nội dung công việc đó đảm bảo tiến độ thực hiện và đạt hiệu quả cao.
- Người phụ trách, điều hành chung phải thường xuyên đôn đốc, kiểm tra giám sát và đánh giá kết quả...
- Nếu có thay đổi trong kế hoạch phải thông báo cho những người có liên quan biết sớm.
- Kế hoạch được thông qua lãnh đạo tập thể sau khi đã biểu quyết được coi như một văn bản có tính pháp quy bắt buộc phải thực hiện.
3. Phương pháp chỉ đạo bằng văn bản
3.1. Khái niệm
Chỉ đạo bằng văn bản là phương pháp cấp trên truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh, nhiệm vụ, hướng dẫn, điều hành công việc tới cấp dưới thông qua các hình thức văn bản của hệ thống trong tổ chức đoàn. Đồng thời qua chỉ đạo bằng văn bản, cấp trên cũng nhận được những thông tin phản hồi từ cấp dưới.
3.2. Những văn bản thông dụng trong hệ thống tổ chức đoàn
Tùy theo tính chất, mức độ, nội dung, quy mô, cách thức tiến hành của từng công việc và tùy theo hoàn cảnh cụ thể mà sử dụng các hình thức văn bản sau cho phù hợp. Những văn bản thông dụng trong công tác chỉ đạc của Đoàn bao gồm: Quyết định, nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chưomg trình, đề án hướng dẫn, công văn, thông báo, báo cáo...
4. Phương pháp chỉ đạo thông qua liên kết với các ngành, đoàn thể khác
4.1. Khái niệm
Là phương pháp phối hợp, liên kết với các ban, ngành trên cơ sở chức năng của mỗi tổ chức để tiến hành thực hiện một nhiệm vụ, một công việc hay tổ chức một hoạt động nào đó trong công tác thanh thiếu nhi hoặc trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội.
4.2. Cách thức tiến hành
- Tổ chức hội nghị (họp) liên tịch, bàn bạc thống nhất về các kế hoạch, nhiệm vụ mỗi bên, trách nhiệm về kinh phí, cơ sở vật chất trên cơ sở chức năng và khả năng của từng đơn vị.
- Ra nghị quyết, hoặc văn bản dưới dạng liên tịch có chữ ký của người có thẩm quyền, đóng dấu để đề cao tính pháp lý về mặt tổ chức và tính trách nhiệm của mỗi bên (thông thường là nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp liên tịch, kế hoạch liên tịch...).
- Tiến hành triển khai, thực hiện kế hoạch theo văn bản liên tịch, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, bồ sung và xử lý tĩnh huống.
- Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm trong từng đợt hoặc cả đợt hoạt động.
- Trong quá trình liên kết chỉ đạo phải bám sát vào chức năng, nhiệm vụ, khả năng của mỗi bên để phân công công việc cho hợp lý, tránh chồng chéo, lấn sân hoặc đổ lỗi cho nhau.
- Làm cho các ban ngành, đoàn thể hiểu rõ hơn và có trách nhiệm hơn với công tác thanh thiếu nhi.
- Tạo môi trường thuận lợi, sức mạnh tổng hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Có sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, tránh tình trạng liên kết, rầm rộ, ban đầu, không có thời điểm kết thúc, tránh liên kết hình thức làm giảm uy tín của tổ chức đoàn.
- Nếu phối hợp tiến hành thực hiện một hoạt động hay một đợt hoạt động có thể thành lập ban chỉ đạo liên tịch có đại diện các bên tham gia.
5. Những điểm cần lưu ý
- Chỉ đạo bằng vãn bản có hiệu quả ở diện rộng trong quá trình chỉ đạo phù hựp với nhiều vùng, miền, nhất là ở những nơi xa, khó khăn đi lại nhưng lại có nhược điểm: khó khăn kiểm tra, đánh giá; không đôn đốc kịp thời và khó xử lý những vấn đề phát sinh, trong văn bản không thể đề cập tất cả mọi vấn đề, cơ sở dễ lúng túng trong việc thực hiện.
- Nhiều cơ sở thường vận dụng mảy móc, thiếu linh hoạt, dập khuôn theo định hướng chung mà không xuất phát từ cơ sở thực tế của đơn vị, thậm chí có nơi còn lợi dụng những sơ hở trong văn bản để làm trái pháp luật, trái quy định.
- Cấp trên phải kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của cơ sở bằng nhiều hình thức qua nhiều kênh thông tin, không chỉ tin và chỉ dựa vào báo cáo bằng văn bản của cấp dưới.
Ngoài những phương pháp kể trên trong công tác chỉ đạo còn có những phương pháp đặc thù riêng cho từng đối tượng khác nhau như:
- Phương pháp tổ chức hội nghị.
- Phương pháp đi cơ sở, đánh giá kiểm tra kết quả.
- Phương pháp thông tin 2 chiều...
Nhưng dù sử dụng phương pháp nào cũng phải có sự kết hợp tổng thể với các phương pháp khác nhằm mục đích giúp cơ sở thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết một cách năng động, sáng tạo đạt hiệu quả cao.