​1. Khái niệm về hoạt động ngân hàng và tranh chấp trong hoạt động ngân hàng

- Hoạt động ngân hàng  là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ như: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản...

- Tranh chấp trong hoạt động ngân hàng là các tranh chấp phát sinh trong hoạt động ngân hàng. Các loại tranh chấp thường xảy ra trong lĩnh vực ngân hàng là: tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng bảo lãnh, tranh chấp hợp đồng thế chấp. 

2. Các phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngân hàng:

Để giải quyết tranh chấp  phát sinh trong hoạt động ngân hàng, có nhiều cách thức khác nhau trên tinh thần đảm bảo tối đa quyền lựa chọn cho các bên tranh chấp,đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp . Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện tại, các hình thức giải quyết tranh chấp chủ yếu được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam (cũng như trên thế giới) bao gồm: Hình thức thương lượng; hòa giải; Trọng tài và giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án. 

a. Giải quyết tranh chấp bằng thương lượng:

Đây là phương thức được các bên tranh chấp ưu tiên lựa chọn trên tinh thần tự nguyện, là phương thức tốt nhất để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động ngân hàng

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc Ngân hàng thương mại và khách hàng cùng nhau bàn bạc, thống nhất để tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào.

Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại có thể được tiến hành bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, gián tiếp hoặc kết hợp cả hai. Việc lựa chọn cách thức thương lượng nào phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của các bên.

. Phần lớn tranh chấp phát sinh trong hoạt động ngân hàng được giải quyết bằng phương thức này. Nhà nước khuyến khích áp dụng phương thức tự thương lượng để giải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên. Chính vì vậy, pháp luật không đưa ra bất cứ quy định nào cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng khi các bên xảy ra tranh chấp và lựa chọn phương thức này.

 Về ưu điểm:

Phương pháp này rất thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên. Nếu thương lượng thành công, thì các bên sẽ loại bỏ được những bất đồng phát sinh trước đó, ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên...

Về nhược điểm:

+ Việc thương lượng thành công hay thất bại phụ thuộc vào sự hiểu biết, thái độ thiện chí và sự hợp tác của các bên. Nếu như một bên không hợp tác trong quá trình thương lượng thì thương lượng không thể đạt được kết quả như mong muốn.

 + Kết quả thương lượng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao nên việc thực thi kết quả thương lượng phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí tự nguyện thực thi của các bên tham gia

b. Giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải:

Hòa giải khác với phương thức thương lượng ở sự có mặt của bên thứ ba (hòa giải viên) và cũng khác với phương thức giải quyết bằng Trọng tài ở chỗ, hòa giải viên không có quyền xét xử và ra phán quyết như trọng tài viên.

Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải được thực hiện theo quy định của Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp thông qua việc ngân hàng thương mại và khách hàng tiến hành thương lượng giải quyết tranh chấp với sự hỗ trợ của bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức đóng vai trò là trung gian hòa giải để hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp. 

. Về vai trò của hòa giải viên trong quá trình hoà giải: vai trò của hoà giải viên chỉ dừng lại ở việc khuyến khích và trợ giúp các bên tìm ra một giải pháp mang tính thực tế mà tất cả các bên liên quan đều có thể chấp nhận sau khi xem xét, nghiên cứu những lợi ích và nhu cầu của họ. Tùy thuộc nội dung, tính chất của vụ tranh chấp và sự thỏa thuận của các bên, số lượng hòa giải viên có thể là một hoặc nhiều.

Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp. 

- Ưu điểm:

+ Thủ tục hòa giải được tiến hành nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải cùng như địa điểm tiến hành hòa giải.

+ Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hộ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên.

+Các bên tranh chấp không bị gò bó về mặt thời gian như trong thủ tục tố tụng tại Tòa án.

+ Các bên hoàn toàn có quyền chủ động trong việc tìm kiếm một hòa giải viên có đủ hiểu biết để tham gia giải quyết tranh chấp.

+ Các bên có thể kiểm soát được các tài liệu chứng cứ có liên quan (những bí mật kinh doanh) 

- Nhược điểm:

+ Việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp, thỏa thuận hòa giải không có tính bắt buộc thi hành những phán quyết của Trọng tài hay của Tòa án.

+ Muốn tiến hành thủ tục này thì các bên phải có sự tin tưởng lẫn nhau 

c.Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại:

Có thể nói, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là một phương thức không thể thiếu trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động của Ngân hàng thương mại và phương pháp này ngày càng được các bên ưa chuộng, sử dụng

Trọng tài thương mại  là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.

Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đó là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp giữa Ngân hàng thương mại và khách hàng bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.

Cũng giống với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải, phương thức này không mang ý chí quyền lực nhà nước. 

Ưu điểm: 

+ Đảm bảo tối đa quyền tự chủ của các bên.

+ Các bên có quyền lựa chọn cơ quan trọng tài, hình thức trọng tài, quy tắc tố tụng trọng tài, Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp cho mình không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên.

+ Cho phép các bên có thể tính toán về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, từ đó giúp khách hàng có thể sắp xếp thời gian hợp lý, đảm bảo việc giải quyết tranh chấp.

+ Thủ tục giải quyết đơn giản, thuận tiện, nhanh gọn, dứt điểm, hiệu quả. Ngoài ra, với nguyên tắc xét xử kín nên phương thức này bảo đảm uy tín cũng như bí mật của các bên, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên.

+ Phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm, đây là ưu điểm nổi bật của trọng tài so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Sau khi Trọng tài đưa ra phán quyết thì phán quyết đó có hiệu lực thi hành, các bên không có quyền kháng cáo. Các bên trong tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án tuyên hủy phán quyết của trọng tài nếu phán quyết đó không đúng

+ Là một tổ chức phi chính phủ nên Trọng tài độc lập trong xét xử, không chịu sự chi phối bởi yếu tố chính trị, không chịu Sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nào mà chị chịu sự giám sát của Tòa án trong một số mặt về thủ tục tố tụng. Do vậy, bảo đảm được yếu tố khách quan, trung lập trong quá trình giải quyết tranh chấp.

- Nhược điểm:

+ Với phương thức giải quyết tranh chấp này, việc thi hành phán quyết trọng tài không phải lúc nào cùng trôi chảy, thuận lợi mà chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên nên sẽ khó thành công, khi một bên không chấp hành thì dù có biện pháp cưỡng chế thì việc thực thi cũng phức tạp và tốn kém không khác gì việc giải quyết tranh chấp bằng Toà án

+ Ngoài ra, một điểm hạn chế khác là chi phí cho phương thức giải quyết tranh chấp này tương đối cao.

d. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án:

Đây thường là phương thức giải quyết tranh chấp cuối cùng mà các bên lựa chọn trong trường hợp thương lượng hoặc hòa giải không thành công. Phương thức này rất ít khi được các bên trong tranh chấp sử dụng

Phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động của Ngân hàng thương mại thông qua Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo trình tự thủ tục chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.

Khi có tranh chấp, người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nếu muốn Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích cho mình thì phải gửi đơn kiện đến đúng cấp Tòa án có thẩm quyền. Tòa án sẽ xem xét vụ việc và xét xử theo thủ tục sơ thẩm và ra bản án sơ thẩm. Nếu các bên không đồng ý với bản án sơ thẩm thì có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Việc giải quyết tại Tòa án còn có thể được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm.

Việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động của Ngân hàng thương mại tại Tòa án bao gồm nhiều quy định khác nhau và trình tự, thủ tục được quy định trong các Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015.

- Ưu điểm:

+ Phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế cao. Nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành, do đó, khi đã đưa ra Tòa án thì quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo hơn so với các biện pháp khác.

+ Với nguyên tắc hai cấp xét xử, những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục.

+ Thực tế tại Việt Nam thì án phí Tòa án thấp hơn phí Trọng tài.

- Nhược điểm:

+ Thủ tục và thời gian giải quyết tranh chấp tại Tòa án thường bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến hoạt động của các bên tranh chấp.

+ Nguyên tắc xét xử công khai của Tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ, mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là có thế làm sụt giảm uy tín của các bên trên thương trường; cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ.

+ Bản án xét xử xong chưa được thi hành ngày mà các bên có quyền kháng cáo, khiếu nại nên thời gian kéo dài ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của các bên tranh chấp.