1.Những quyết định, hành vi tố tụng nào có thể bị khiếu nại?

Quyết định hoặc hành vi tố tụng hình sự bị coi là trái pháp luật khi quyết định đó được ban hành hoặc hành vi đó được thực hiện không tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thì có thể bị khiếu nại.

Quy định của pháp luật về quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cụ thể như sau:

Một là, quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

>> Xem thêm: Phiên tòa là gì ? Quy định pháp luật về phiên tòa ?

Hai là, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

2. Các quyết định, hành vi tố tụng hình sự nào có thể bị khiếu nại?

Quyết định hoặc hành vi tố tụng hình sự bị coi là trái pháp luật khi quyết định đó được ban hành hoặc hành vi đó được thực hiện không tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thì có thể bị khiếu nại.
Quyền khiếu nại là một quyền cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp 2013, có nội dung: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Theo đó, trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền khiếu nại được khoản 1 Điều 469, cụ thể hóa: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.

Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về “Các quyết đinh, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại”, là quy định mới so với Bộ luật Tố tụng hình sự cũ.

Điều 470. Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại

1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này.

2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.

Theo nội hàm của Điều 470 nêu trên, các hoạt động tố tụng được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau. Tuy nhiên, chỉ những quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán; người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra;

Hoặc hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của các chủ thể nói trên được thực hiện thì mới có thể là đối tượng của quyền khiếu nại trong tố tụng hình sự.

Các quyết định do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ban hành trong giai đoạn tố tụng được thể hiện bằng các văn bản tố tụng như các quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định đưa vụ án ra xét xử…

Những hành vi do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, đối chất, nhận dạng, khám xét người, khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản…

Quyết định hoặc hành vi tố tụng hình sự nói trên bị coi là trái pháp luật khi quyết định đó được ban hành hoặc hành vi đó được thực hiện không tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chẳng hạn, quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can được ban hành khi không đủ căn cứ pháp lý do luật định hoặc được ban hành do người không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật… Hay hành vi khám người không có lệnh của người có thẩm quyền, việc tiến hành khám xét xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét, việc khám xét không có sự tham gia của người chứng kiến hoặc chính quyền địa phương hay cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc…

Những quyết định được ban hành hoặc hành vi được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trái pháp luật làm xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân như quyết định khởi tố bị can trái pháp luật sẽ dẫn đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bị can, điều tra, truy tố, xét xử đối với họ, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền nhân thân và các quyền lợi chính đáng người bị khởi tố.

Hoặc việc khám xét xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét là hành vi bị cấm trong hoạt động này vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người bị khám xét.

Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại được quy định tại Điều 472; quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại quy định tại Điều 473 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tùy thuộc vào các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại trong các giai đoạn tố tụng (khởi tố, điều tra; truy tố; xét xử), thì thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại trong từng giai đoạn được quy định cụ thể tại các điều 474, 475, 476 và 477 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

3. Ai có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan cảnh sát điều tra?

Căn cứ tại khoản 2 Điều 158, Điều 469 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan cảnh sát điều tra là:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cáo trạng hoặc quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu có khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định tại các chương XXI, XXII, XXIV, XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này

4. Điều kiện và thời hiệu thực hiện khiếu nại quyết định không khởi tố của Cơ quan cảnh sát điều tra

Điều kiện để khiếu nại quyết định không khởi tố của Cảnh sát điều tra: Theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Thời hiệu thực hiện khiếu nại: căn cứ tại Điều 471 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thời hiệu để thực hiện việc khiếu nại được quy định như sau:

Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.

Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

5.Quyết định, hành vi tố tụng hình sự nào có thể bị khiếu nại?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, để đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng của hoạt động tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Các quyết định, hành vi tố tụng hình sự có thể bị khiếu nại được quy định tại Điều 470 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Cụ thể:

Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này.

Đơn khiếu nại

Nội dung đơn khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan cảnh sát điều tra bao gồm:

Họ tên, địa chỉ của người khiếu nại.

Ghi rõ thông tin của cơ quan ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, số quyết định, ngày tháng năm ra quyết định, người ký quyết định.

Nội dung khiếu nại phải có: Tóm tắt việc khiếu nại, quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Và cuối đơn phải nêu rõ cam kết của người khiếu nại rằng toàn bộ nội dung trình bày là đúng sự thật và chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự