Khác với những cá nhân bị khiếm khuyết về mặt giới tính ngay từ khi sinh ra có mong muốn được xác định lại giới tính nêu bên trên, trong cuộc sống cũng có những cá nhân có biểu hiện giới tính hoàn toàn bình thường (về cấu tạo bên trong nhiễm sắc thể đồng nhất với biểu hiện bộ phận sinh dục bên ngoài) nhưng có mong muốn được chuyển đổi sang giới tính ngược lại và được pháp luật cũng như xã hội công nhận và được đối xử theo giới tính mới. Trong phạm vi bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ đưa ra cái nhìn khái quát nhất về mặt pháp lý của vấn đề này.
Câu hỏi: Tôi là một người thuộc giới tính thứ ba, mặc dù trên giấy tờ pháp lý tôi mang giới tính là nam. Nhưng bản thân tôi luôn mặc định mình là nữ, ngoài ăn mặc nữ tính, tôi còn được bạn bè coi như là một người con gái thực sự. Tôi luôn khao khát sống thật với giới tính của mình và được xã hội công nhận. Pháp luật Việt Nam đã công nhận quyền chuyển giới, tuy nhiên tôi muốn tìm hiểu về các thủ tục để chuyển giới theo đúng quy định. Rất mong luật sư sẽ giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Luật sư tư vấn: Cảm ơn câu hỏi của bạn, thay mặt Luật Minh Khuê, tôi sẽ giải đáp vấn đề như sau.
1, Chuyển giới là gì?
Giới tính là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới. Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nghĩa là giữa nam và nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có những sự khác biệt như nhau về mặt sinh học
"Chuyển giới" bao hàm nhiều nghĩa hơn mà mọi người có thể nhận ra. Nó bao gồm một loạt các đặc điểm nhận dạng và biểu hiện giới có thể nằm suy nghĩ của phần lớn mọi người có thể được phân loại là chỉ một trong hai giới tính - nam hoặc nữ (giới tính nhị phân).
“Người chuyển giới” là thuật ngữ miêu tả những người có bản dạng giới (suy nghĩ, cảm nhận về giới của bản thân) không trùng với cơ thể sinh học của họ khi sinh ra, ví dụ: một người chuyển giới được nhận diện là nữ trong khi bẩm sinh có cơ quan sinh dục nam.
Có hai dạng người chuyển giới là: Người chuyển giới nam sang nữ (male to female) và người chuyển giới nữ sang nam (female to male). Ở góc độ xu hướng tính dục, có thể phân chia thành người chuyển giới đồng tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và chỉ yêu nữ giới), người chuyển giới song tính (ví dụ người chuyển giới từ nam sang nữ và có thể yêu cả nam giới và nữ giới) và người chuyển giới dị tính (ví dụ người chuyển giới từ nữ sang nam và chỉ yêu nữ giới).
2, Quyền chuyển giới được pháp luật quy định như thế nào?
Trước đây việc chuyển đổi giới tính không được pháp luật Việt Nam công nhận. Tuy nhiên, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, quyền chuyển đổi giới tính của cá nhân đã được pháp luật thừa nhận.
“Điều 37. Chuyển đổi giới tính
Việc chuyển đổi giới tính được thực hiện theo quy định của luật. Cá nhân đã chuyển đổi giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.”
Theo đó, Bộ luật Dân sự 2015 đã quy định, trong trường hợp đã chuyển đổi giới tính thì cá nhân chuyển đổi giới tính sẽ có quyển và có nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được chuyển đổi.
Tuy nhiên pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định rõ ràng về điều kiện để được công nhận chuyển giới hay trình tự thủ tục pháp lý đối với vấn đề này. Có thể, trong thời gian tới, các nhà lập pháp sẽ đưa ra thêm quy định để quyền chuyển giới được rõ ràng hơn.
3, Các thủ tục pháp lý nhân thân liên quan đến vấn đề chuyển giới
- Thứ nhất thay đổi tên: Người chuyển giới được pháp luật cho phép thay đổi tên theo như giới tính của mình.
Theo điểm e khoản 1 Điều 28 BLDS năm 2015, quyền thay đổi tên, cá nhân có quyền “Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính.”
Các cá nhân thực hiện thay đổi tên theo trình tự thủ tục như sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ:
- Tờ khai (theo mẫu)
- Giấy tờ liên quan (Giấy chứng nhận kết hôn của bố mẹ, Sổ hộ khẩu gia đình, CMND hoặc thẻ căn cước công dân...)
- Giấy khai sinh bản chính của người được thay đổi
Bước 3: Nộp hồ sơ tại Uỷ Ban Nhân Dân
Người yêu cầu thay đổi họ tên nộp Tờ khai cải chính hộ tịch, Giấy khai sinh bản chính và các giấy tờ liên quan theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
Trong thời hạn 03 ngày cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét tính hợp lệ của các giấy tờ trên.
Bước 2: Nhận kết quả
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì Ủy ban nhân dân phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Ủy ban nhân dân nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện thì Ủy ban nhân dân phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.
4, Các thủ tục về pháp lý hộ tịch liên quan đến vấn đề chuyển giới
Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Hồ sơ yêu cầu thay đổi họ, tên gồm:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ
+ Tờ khai (theo mẫu quy định);
+ Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch (Bản chính);
+ Các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch
Bước 2: Nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch
Căn cứ khoản 3 Điều 46 Luật hộ tịch “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước; xác định lại dân tộc.”
Bước 3: Cơ quan đăng ký hộ tịch thụ lý hồ sơ cải chính hộ tịch
– Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan. Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch; cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho người yêu cầu.
– Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
– Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
5, Quyền chuyển giới khác với quyền xác định lại giới tính như thế nào?
Bộ Luật dân sự 2015 đã chính thức ghi nhận quyền chuyển đổi giới tính với tư cách là một quyền nhân thân gắn với mỗi cá nhân. Điều 37 Bộ Luật dân sự 2015 ghi nhận chuyển đổi giới tính hoàn toàn độc lập với quyền xác định lại giới tính (Điều 36 Bộ Luật dân sự 2015). Hai quyền này mặc dù cùng liên quan đến giới tính của chủ thể nhưng về bản chất cũng như các vấn đề pháp lý liên quan là khác nhau.
a, Về bản chất:
+ Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.
+ Giới tính của người đó bình thường nhưng mong muốn chuyển đổi thành giới tính khác.
b, Về mục đích:
- Xác định lại giới tình nhằm xác định rõ giới tính.
- Chuyển đổi giới tính nhằm: Chuyển đổi thành giới tính mà người đó mong muốn
c, Về cơ sở thực hiện:
Xác định lại giới tính Căn cứ theo Nghị định 88/2008/NĐ-CP Trong trường hợp có khuyết tật bẩm sinh về giới tính
+ Đối với trường hợp nam lưỡng giới giả nữ:
- Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng;
- Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên.
+ Đối với trường hợp nữ lưỡng giới giả nam:
Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn;
Nhiễm sắc thể giới tính là XX.
+ Đối với trường hợp lưỡng giới thật:
Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng;
Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; XXX/XY; XX/XXXY hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật.
- Chuyển đổi giới tính lại chưa có cơ sở để thực hiện.
Việc tồn tại quy định về chuyển đổi giới tính trong BLDS chỉ là sự khởi đầu. Để quy định này có thể đi vào đời sống và được vận dụng một cách triệt để thì việc xác định những điều kiện cũng như hậu quả pháp lý khi chuyển đổi giới tính thật sự là những vấn đề cần được xem xét và quy định một cách cụ thể trong tương lai