- 1. Chỉ huy quân sự là gì?
- 2. Chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
- 3. Khách thể loại về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
- 4. Mặt khách quan về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
- 5. Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng
1. Chỉ huy quân sự là gì?
Chỉ huy quân sự hay còn gọi đơn giản là chỉ huy, viên chỉ huy là một quân nhân trong quân đội hoặc một thành viên trong lực lượng vũ trang được đảm nhận một chức vụ, quyền hạn nhất định nào đó và có quyền uy, điều khiển, ra lệnh cho một lực lượng quân sự hoặc một đơn vị quân đội, một bộ phận quân đội nhất định. Chỉ huy quân sự có thể là một vị chỉ huy thường trực, được giao nhiệm vụ thường xuyên hoặc một vị chỉ huy được giao chỉ huy một đơn vị quân đội hay một nhóm quân nhân trong một chiến dịch, một trận đánh, một cuộc hành quân hay một hoạt động nhất định.
Chỉ huy quân sự là tên gọi chỉ chung cho những người có quyền ra lệnh cho một đơn vị vũ trang. Trong lịch sử chỉ huy quân sự thường có nhiều danh xưng để chỉ như tướng (Chánh tướng hoặc phó tướng), tướng tá, viên tướng, tướng quân là tên gọi một cách tôn xưng cho người chỉ huy một đạo quân hoặc một đội quân cho dù viên chỉ huy này chưa hẳn đã được phong chức tướng ví dụ như một viên kỵ đô úy. Trường hợp một người chỉ huy toàn quân thường được gọi bằng danh xưng nguyên soái hay thống soái. Điều này phân biệt với tước hiệu nguyên soái hay thống soái là một cấp bậc trong quân đội của một số nước. Chỉ huy quân sự có vai trò rất quan trọng. Tục ngữ có câu: "Quân vô tướng như hổ vô đầu".
2. Chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo bộ luật hình sự năm 2015
Căn cứ pháp lý người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo bộ luật hình sự năm 2015
Căn cứ theo quy định tại Điều 392 Bộ Luật hình sự 2015 có quy định:
"1. Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng.
2. Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện.
3. Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.
4. Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.”
Như vậy theo điều luật trên chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt là những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
- Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng.
- Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện.
- Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.
- Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.
Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bao gồm quân nhân và những người không phải là quân nhân (như dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội) thực hiện.
Khái niệm quân nhân tại ngũ
Quân nhân tại ngũ là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phục vụ trực tiếp trong quân đội. Quân nhân bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ và quân nhân chuyên nghiệp được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự và Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam.
Khái niệm quân nhân dự bị
Quân nhân dự bị là công dân được đăng ký vào ngạch dự bị động viên theo Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên.
Quân nhân dự bị phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân khi
Quân nhân dự bị chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian người đó được tập trung huấn luyện.
Trong đó, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện được xác định trong các trường hợp sau đây: Tập trung huấn luyện chính trị, quân sự thường kỳ hàng năm; Tập trung diễn tập; Tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên và tập trung kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu.
Khái niệm công nhân, viên chức quốc phòng
Công nhân, viên chức quốc phòng là những người được ký hợp đồng lao động hoặc tuyển dụng vào phục vụ trong quân đội. Những người này chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian họ tham gia chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu.
Khái niệm dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội
Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu là người thuộc một bộ phận dân quân, tự vệ được giao cho đơn vị quân đội khi có nhu cầu chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu để tăng khả năng hoàn thành nhiệm vụ tác chiến của đơn vị quân đội.
Dân quân, tự vệ phối thuộc vớii quân đội chịu trách nhiệm khi
Dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian phối thuộc được quy định trong quyết định của cấp có thẩm quyền.
3. Khách thể loại về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Khách thể loại về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo bộ luật hình sự năm 2015 là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội hoặc khi có hoạt động quân sự.
4. Mặt khách quan về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể xảy ra trong các hoạt động quân sự.
Đó không chỉ bao gồm các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà còn cả những hành vi: vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của những người không phải là quân nhân như dân quân tự vệ, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; vi phạm pháp luật quốc tế về chiến tranh như hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh, hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự.
5. Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng
Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng bao gồm tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh và tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm được quy định tại các Điều 316, 317 và 318 BLHS. Với quy định về tên tội danh và mô tả trong điều luật, thì đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là “mệnh lệnh” của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền. Theo hướng dẫn thì “mệnh lệnh” là lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng tín hiệu lệnh và bắt buộc cấp dưới phải chấp hành. Vậy chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có phải là đối tượng tác động của các tội phạm này hay không? Hành vi chống lại hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này?
Theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội thì nghĩa vụ của quân nhân là phải “tuyệt đối phục tùng lãnh đạo, chỉ huy, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên... Do đó, “mệnh lệnh” và “chỉ thị” của người chỉ huy hoặc cấp trên là hai khái niệm khác nhau. Xét về nội dung và yêu cầu thì mệnh lệnh và chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền đều có tính bắt buộc cấp dưới phải thi hành. Nhưng về hình thức pháp lý thì chỉ thị của cấp trên chưa chắc đã phải là mệnh lệnh (như chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là văn bản quản lý hành chính), không chỉ bắt buộc đối với các đơn vị quân đội, mọi quân nhân mà cả những người không phải là quân nhân nhưng có liên quan. Ví dụ: Chỉ thị về việc tuyển quân hàng năm là văn bản có giá trị bắt buộc không chỉ đối với những quân nhân làm nhiệm vụ tuyển quân mà còn có giá trị bắt buộc với Hội đồng nghĩa vụ quân sự địa phương và thanh niên trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Có những chỉ thị chỉ có giá trị bắt buộc đối với một nhóm quân nhân (là thủ trưởng các đơn vị quân đội) như “Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc cấm không cho bộ đội đi làm kinh tế...” Chúng tôi cho rằng, chỉ thị của cấp trên có thẩm quyền cũng là đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Việc quy định đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại các Điều 316, 317 BLHS chỉ là “mệnh lệnh” là chưa chính xác mà phải là “mệnh lệnh, quyết định và chỉ thị của người chỉ huy và cấp trên có thẩm quyền” mới đúng.
Tội chống mệnh lệnh là hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền. Mặt khách quan của tội chống mệnh lệnh thể hiện bởi hành vi: công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh; cố ý không thực hiện mệnh lệnh được giao. Hai hành vi này tuy có điểm chung là hành vi được thực hiện một cách cố ý nhưng có sự khác nhau về hình thức biểu hiện. Hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh thể hiện ở việc người nhận mệnh lệnh công khai từ chối hoặc có hành vi khác làm cho người giao mệnh lệnh biết ngay là mệnh lệnh của mình sẽ không được thực hiện. Còn hành vi cố ý không thực hiện mệnh lệnh được biểu hiện dưới dạng: không thực hiện những hành động được quy định trong mệnh lệnh; thực hiện những hành vi mà mệnh lệnh cấm; thực hiện mệnh lệnh không chính xác về mặt thời gian, địa điểm hoặc tính chất của hành động được ghi trong mệnh lệnh. Cho nên, mặc dù mệnh lệnh không được thực hiện nhưng người giao mệnh lệnh không biết, thậm chí còn tin là mệnh lệnh của mình sẽ được thực hiện như GS.TS. Axmetsina X.M khẳng định. Việc Điều 316 BLHS chỉ quy định “Người nào chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...” mà không mô tả hành vi chống mệnh lệnh là gì, theo chúng tôi là chưa chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, chưa khắc phục được bất cập tại Điều 250 BLHS. Chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng như sau:
- Tội chống mệnh lệnh cần được hoàn thiện theo hướng: bổ sung thêm các đối tượng tác động của tội phạm là “quyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền;”và mô tả hành vi khách quan của tội phạm này là “công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý không thực hiện quyết định, chỉ thị hoặc mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Theo đó, tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền” và nội dung khoản 1 Điều 316 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều…. Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền
1. Người nào công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...”
- Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh cũng cần được hoàn thiện theo hướng bổ sung thêm đối tượng tác động của tội phạm là “quyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền”. Nội dung khoản 1 Điều 317 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:
“ Điều… Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền
1. Người nào chấp hành mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền một cách lơ là, chậm trễ, tuỳ tiện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”