NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Lý thuyết cổ điển:

Trong thời của các nhà kinh tế cổ điển như Adam Smith, Ricardo và Marx, vốn đã đóng một vai trò quan trọng trong lý thuyết về tàng trưởng. Mặc dù luận bàn từ các góc nhìn khác nhau, các nhà kinh tế cổ điển đã tin tưởng ràng vốn và tiến bộ công nghệ có đóng góp cho phương thức phát triển cùa một nền kinh tế. Ví dụ, Smith cho ràng công nghệ được cải tiến sẽ dẫn đến tăng năng suất lao động, ông đã nhìn nhận sự phân hoá lao động như cỗ máy tạo gia tốc cho sáng chế và do đó cho tiến bộ công nghệ. Mặc dù tin ràng tiến bộ công nghệ góp phần vào việc tăng năng suất, các nhà kinh tế cồ điền, đặc biệt là Ricardo và Malthus, cho ràng về lâu dài sự tăng trưởng dân số sẽ vượt xa năng suất lao động, dẫn đến cái mà ta gọi là quy luật giảm sút lợi nhuận.

Dựa vào quy luật giảm sút lợi nhuận, người ta cho ràng tăng trưởng vô hạn là điêu phi lô-gic và rằng sự tăng trưởng sẽ chậm lại tại một thời điểm nào đó. Trong Giới hạn đối vói sự tăng trưởng, Donella Meadows mặc nhiên thừa nhận sự tăng trưởng vô hạn chẳng những là điêu không mong muốn mà còn không bển vữhg. Tăng trưởng không hạn chế sẽ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên để duy trì cuộc sống mà trái đất cung cấp và cuối cùng sẽ huỷ diệt loài người bàng việc đẩy loài người tói chỗ tuyệt chủng. Tâm trạng bi quan đã tháng thế trước sự bùng nổ dân số thế giới mà để duy trì phải trông chờ vào những nguồn tài nguyên may mán lắm mới được coi là bất biến, nhưng trong thực tế lại hao hự dần.

2. Hai trường phái tư duy

Điều quan trọng là quan sát xem các nhà kinh tế trưổc đây đã nhìn nhận như thế nào vể vai trò của công nghệ đối vói sự tăng trưởng của một nền kinh tế, bởi vì sự hiểu biết đúng thực chất mà họ cung cấp đã chuẩn bị nền tảng cho những lý thuyết tăng trưởng được phát triển trong thế kỷ vừa qua vối sựtập trung chú ý đến phân đóng góp của công nghệ cho tãng trưởng kinh tế. Các lý thuyết này có thề phân thành hai loại mỏ hình, được biết đến dưới các tên gọi lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh và nội sinh tại Sơ đồ phía dưới ; cà hai lý thuyết đều thống nhất ràng công nghệ là động lực của sự tăng trưởng, nhưng khác nhau ở cách thức lý giải vai trò của tiến bộ công nghệ như một yếu tố của tăng trưởng kinh tế.

Lý thuyết tăng trưởng nội sinh: Theo lý thuyết này, sự thay đổi về công nghệ được tính vào cổ phần vốn mói. Nhìn từ góc độ này, những điều kiện kinh tế đã có trước là cái kích thích sự thay đổi về công nghệ. Nói cách khác, sự tăng trưởng kinh tế phát sinh ngay trong lòng hệ thống, thông thường là một quốc gia- dân tộc và tiến bộ công nghệ được coi là một yếu tố nội sinh. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh chú trọng vào giáo dục, huấn luyện tại nơi làm việc và phát triển công nghệ mói cho thị trường thế giới, coi đó là những yếu tố chính quyết định tỷ lệ tăng trưởng của một quốc gia- dân tộc.

Lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh: Theo lý thuyết này, sự thay đổi về công nghệ đóng góp cho tăng trưởng đầu ra mà không kèm theo bất kỳ sự thay đổi nào đối với đầu vào về lao động và vốn trong quá trình sản xuất. Nói cách khác, tiến bộ công nghệ dẫn đến tâng trưởng đầu ra trong khi vẫn sử dụng số lao động và vốn như nhau. Tuy nhiên, lý thuyết này không chỉ rõ bất kỳ một cơ chế trung gian cụ thể nào mà nhờ đó sự tiến bộ công nghệ được thực hiện; thay vào đó, sự tiến bộ như vậy được tách riêng ra và già định như "của Trồi cho". Cách nhìn nhận này coi công nghệ là một yếu tố ngoại sinh.

3. Đối mới để phá hủy một cách sáng tạo:

Schumpeter đã phát triển một lý thuyết tăng trưởng lấy tâm điểm là sự đổi mói và chủ doanh nghiệp. Ông coi một nền kinh tế năng động không phải là một nền kinh tế ở trạng thái cân bàng, thay vào đó là một nền kinh tế mà trật tự luôn luôn bị sự đổi mỏi công nghệ phá vỡ. Những chủ doanh nghiệp đã tận dụng lợi thế của một sáng chế cơ bàn, bất kể là một sàn phẩm mới hoặc kỹ thuật mới, bàng cách biến nó thành sự đổi mói kinh tế. về mặt kinh tế, sáng chê' không có liên quan gì chừng nào chủ doanh nghiệp chưa tham gia vào việc sử dụng và đưa chúng ra thị trường. Theo ông, chủ doanh nghiệp đã được thúc đẩy bởi khả năng tiềm tàng có thể thu được một khoản lợi nhuận. Các hoạt động đổi mới này, sau đó có thể bị bắt chưỏc và trong quá trình như vậy, sự bắt trước này có thể dẫn tói một sự bùng nổ về kinh tế, mặc dù những người bắt chước có thể cắt giảm lợi nhuận của chủ doanh nghiệp. Mặc dù vẫn nhất trí ràng có nhiều yếu tố cẩn thiết cho phát triển kinh tế, Schumpeter đã coi sự khát khao của chủ doanh nghiệp đối vói lợi nhuận là động lực tạo ra hầu hết mọi sự đổi mói.

Schumpeter đã cho ràng khả năng có đặc quyển ở một mức độ nào đó là cần thiết để chủ doanh nghiệp tiếp tục đổi mới. Tuy nhiên, sau đó Ông đỡ dự liệu sự thất bại của chủ doanh nghiệp và sự nổi lên của một phương thức tổ chức kinh tế mới, trong đó đổi mói và R&D sẽ do những hãng lớn thực hiện.’ Kết luận này khiến một số nhà kinh tế nhận ra có hai Schumpeter: Schumpeter I là ngưòi phát hiện vai trò đi đầu của chủ doanh nghiệp trong tiến bộ công nghệ; Schumpeter II là ngươi thấy hoạt động khoa học và kỹ thuật do những doanh nghiệp lón thực hiện. Theo Schumpeter II, những hãng có đặc quyền lớn là động lực chính của tiến bộ công nghệ, bởi vì họ có các nguổn lực cần thiết để tiến hành các hoạt động công nghệ phức tạp và cũng là những người bị đe doạ bởi cái mà Ông gọi là sự phá huỷ mang tính sáng tạo (tức là sự đổi mói loại bỏ những công nghệ thấp kém).

Gần đây, một số nhà kinh tế, đặc biệt là William Baumol, đã thử cài thiện công trình của Schumpeter bàng cách cố gắng đưa vai trò của chủ doanh nghiệp vào quá trình tăng trưởng. Họ mặc nhiên giã định rằng một hệ thống SHTT cần được xem như một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến ứng xử của chủ doanh nghiệp trong việc khuyến khích những người đổi mói, áp dụng đổi mới, đưa đổi mới vào nền kinh tế và thương mại sàn phẩm theo một cách thức sáng tạo hoặc đổi mới.

4. Tiến bộ công nghệ - Một biến số kinh tế quan trọng

4.1 Khái quát chung:

Trong những năm 1950, các nhà kinh tế cổ điển mới do Robert Solow lãnh đạo đã bắt đầu tập trung chú ý đến tiến bộ công nghệ như một biến số quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Khác với các nhà kinh tế cổ điển mói trưóc ông, những người đã coi vốn là yếu tố đóng góp chính cho tăng trưởng kinh tế, Solow dựa trên nghiên cứu của mình về dữ liệu tổng thu nhập quốc nội (GDP) ở Hoa Kỳ từ 1909 đến 1949 đã khuyến nghị ràng sự tăng trưởng trong cổ phần vốn đóng góp chưa đầy 20% của tâng trưởng GDP tính theo đầu người làm việc và biện luận ràng sự tăng trưởng về lao động và vốn chỉ giải thích được một nửa mức tăng trưởng trong tổng GDP. Ông kết luận ràng phần tăng trưởng còn chưa được giải thích, sau này được biết đến dưói tên gọi phẩn còn lại Solow, là kết quà thu được từ tiến bộ công nghệ.12

Solow đã đưa cài tiến công nghệ vào mô hình tăng trưởng của Ông như một biến số ngoại sinh, nhờ đó đã thay đổi cách mà các nhà kinh tế từng nhận thức về sự đóng góp của tiến bộ công nghệ trong tăng trưởng kinh tế của một quốc gia-dân tộc. Sau này phát hiện của Ông nhận được sự ùng hộ trong một nghiên cứu của Edward Denison, với kết luận ràng, trong thời gian giữa năm 1929 và 1957, 40 phần trăm của mức tâng thu nhập theo
đầu người ở Hoa Kỳ là do "sự tiến bộ của tri thức" mang lại.13 Ngày nay con số này có khả năng còn cao hơn nhiều. Nhờ có sự đổi mới liên tục và nhanh chóng, mà hơn một nửa tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ hiện đang do những ngành công nghiệp hẩu như chưa từng tồn tại một thập kỷ trưóc đây tạo ra.”

4.2 Sơ đồ mô hình Solow


Về cơ bản, mô hình Solow tập trung sự chú ý vào bốn biến số: đầu ra, vốn, lao động và tri thức. Mô hình này phân tích vấn đề vốn, lao động và tri thức kết hợp vơi nhau như thế nào để tạo thành đầu ra, mà mức độ đầu ra có thể quyết định sự tăng trưởng của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian. Mô hình này già định ràng tiến bộ công nghệ diễn ra khi có một sự tăng trưởng trong khối lượng tri thức và ràng hàm số sản xuất luôn luôn trở lại giá trị liên quan đến vốn và lao động sống.

Theo Solow, sự tăng trưởng của một nền kinh tế phụ thuộc vào mức tăng trưởng của vốn, lao động và cải tiến công nghệ. Solow tin tưởng và thử chứng minh ràng một nền kinh tế có thể phát triển nếu một phần lớn của tổng đầu ra được dành cho đẩu tư hoặc nếu có sự tăng trưởng nhanh của công nghệ. Tiến bộ công nghệ là yếu tố then chốt dẫn tới tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng ít có mối liên hệ vơi trạng thái của nền kinh tế trong nước và sự tiến bộ trong khoa học, công nghệ ít phụ thuộc vào chính sách tài chính hoặc thuế (tức là chính sách kinh tế).15 Nói cách khác, việc nhìn nhận tiến bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh đồng nghĩa vói việc nói ràng sự thi hành chính sách kinh tế đã không ành hưởng trực tiếp đến tiến bộ kỹ thuật, nhưng tiến bộ kỹ thuật có thể ảnh hưởng đến chính sách kinh tế. Điều này giải thích vì sao mô hình Solow đã không tìm cách xác định xem công nghệ từ đâu tới; nó chỉ ghi nhận khi nào xuất hiện sự tiến bộ công nghệ và già định ràng tiến bộ công nghệ phát triển với tỷ lệ không đổi. Việc đưa tiến bộ công nghệ vào mô hình Solow có nghĩa là một đất nước với tỷ lệ tăng trưởng công nghệ cao hơn (do đó tăng trưởng về năng suất lớn hơn) sé được hưởng mức sống cao hơn các nước không có mức tăng trưởng như vậy.

Khi giải thích khả năng áp dụng mô hình của mình, đặc biệt là trong mối quan hệ vói mức sống đang được nâng cao do tăng trưởng đầu ra và tăng trưởng tiêu thụ, Solow đã sử dụng một già thiết ràng tăng trưởng công nghệ là cái được xác định ở bên ngoài và như vậy có tác dụng tăng năng suất lao động. Già thiết này có nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên không chỉ có một thành phẩn là tỷ lệ sinh học của tăng trưởng dân số mà còn bao gồm cà tỷ lệ tiến bộ công nghệ; được biết đến như là lao động sống. Các nhà kinh tế cổ điển mới quan niệm ràng chính sách của chính phủ không có tác động đối với sự tăng trưởng của công nghệ. Ngoài ra, cách tiếp cận cổ điển mới còn nhấn mạnh những lĩnh vực như ứng xử cạnh tranh, sự cân bàng động và cách thức mà lợi nhuận giảm sút tác động đến sự tích tụ chi phí lao động và vốn.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê