1. Nhà nước và pháp luật là gì?

Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội, lịch sử của xã hội có giai cấp, tương thích với từng giai đoạn phát triển của xã hội loài người, tồn tại, hoạt động, phát huy hiệu quả một kiểu nhà nước nhất định với một bản chất giai cấp, vai trò, sứ mệnh lịch sử nhất định. Lịch sử nhà nước và pháp luật có thể nghiên cứu trong những quy mô, phạm vi khác nhau. Lịch sử nhà nước và pháp luật của toàn thế giới qua bốn kiểu nhà nước và pháp luật của lịch sử các nước: nhà nước và pháp luật chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa; lịch sử nhà nước và pháp luật qua từng kiểu nhất định; lịch sử nhà nước và pháp luật của từng quốc gia, dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử: cổ, trung, cận và hiện đại qua từng kiểu phát triển nhất định...

Các tri thức về lịch sử nhà nước và pháp luật được xác định dựa trên việc nghiên cứu các sự kiện, các tư liệu lịch sử liên quan đến nhà nước và pháp luật, các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của nhà nước, về hệ thống pháp luật của nhà nước đó.

2. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật

Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là môn học quan trọng trong hệ thống khoa học pháp lý. Dựa trên cơ sở học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước ta cũng như tri thức chung của nhân loại về nhà nước và pháp luật, môn học này trình bày trúng giải một cách khoa học các vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật.

Lý luận nhà nước và pháp luật là bộ môn khoa học pháp lí nghiên cứu những quy luật chung nhất của quá trình phát sinh, phát triển, tồn tại và tiêu vong của các kiểu nhà nước và pháp luật.

Lí luận nhà nước và pháp luật nghiên cứu các vấn đề cơ bản như nguồn gốc của nhà nước và pháp luật; bản chất, chức năng, hình thức, kiểu nhà nước và pháp luật; bộ máy nhà nước; hệ thống pháp luật, quan hệ pháp luật, quy phạm pháp luật; thực hiện và áp dụng pháp luật; vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lí, pháp chế xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lí. Lí luận nhà nước và pháp luật nghiên cứu tất cả các kiểu nhà nước và pháp luật, tuy nhiên nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa được coi là trọng tâm nghiên cứu của bộ môn khoa học pháp lí này.

Đây là một ngành khoa học pháp lý nghiên cứu các vấn đề cụ thể về nhà nước và pháp luật sau:

Sự phát sinh, phát triển, tồn tại và thay thế của các kiểu nhà nước và pháp luật để từ đó khái quát hóa và nêu lên quy luật phát sinh và phát triển của nhà nước và pháp luật.

-Những đặc tính chung, cơ bản và những biểu hiện chủ yếu của nhà nước và pháp luật trong đời sống xã hội như bản chất, chức năng, vai trò, hình thức…, bao gồm sự biểu hiện ở từng kiểu nhà nước, pháp luật cụ thể trong lịch sử và ở nhà nước, pháp luật Việt Nam hiện nay.

– Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với nhau và với một số hiện tượng xã hội khác như: kinh tế, chính trị, các tổ chức xã hội, đạo đức…

Khoa học pháp lý là một lĩnh vực khoa học xã hội lấy nhà nước và pháp luật là đối tượng nghiên cứu của mình. Khoa học pháp lý nhìn nhận nhà nước và pháp luật ở nhiều góc độ khác nhau và ở nhiều trạng thái khác nhau. Nhìn chung, có 3 xu hướng nghiên cứu về nhà nước và pháp luật: xu hướng triết học, xu hướng thực chứng và xu thế nghiên cứu so sánh.

3. Xu hướng triết học pháp luật

Khi nghiên cứu về nhà nước, xu hướng triết học (hay còn gọi là xu hướng triết học pháp luật) gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi như: vì sao nhà nước ra đời? Nhà nước ra đời mang lại lợi ích gì? Sự hiện diện của Nhà nước có thể đưa tới những nguy cơ gì? Khi nghiên cứu về pháp luật, xu hướng triết học pháp luật gắng đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi rất phức tạp như: vì sao pháp luật ra đời? Pháp luật ra đời mang lại lợi ích gì cho xã hội? Pháp luật ra đời có thể đưa tới những phiền toái gì cho xã hội? Ngoài ra, triết học pháp quyền còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề về tính công bằng của pháp luật (giữa pháp luật và công lý có mối quan hệ gì với nhau?). Những câu hỏi lớn mà hướng nghiên cứu này gắng tìm câu trả lời là: Ý nghĩa xã hội của pháp luật là gì? Thế nào là một nhà nước tốt? Thế nào là một thứ pháp luật tốt?

Xu hướng triết học pháp luật trong nghiên cứu nhà nước và pháp luật ở nước ta thời gian qua thường đặc biệt coi trọng nội dung trong chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật. Lý thuyết này đề cao yếu tố cấu trúc lợi ích và cấu trúc giai cấp, đấu tranh giai cấp trong việc giải thích sự ra đời và sự tồn tại, vận động của các hiện tượng nhà nước và pháp luật. Thời gian gần đây, do có sự nhận thức lại về bản chất của nhà nước và pháp luật, khía cạnh bản chất xã hội của nhà nước và pháp luật đã được quan tâm, phân tích sâu sắc hơn.
Ngoài cách tiếp cận chủ đạo này, các cách tiếp cận khác về nhà nước và pháp luật, nói chung, chưa được quan tâm nhiều lắm. Thực tế này là một mảnh đất mầu mỡ cho những ai có sự ưu tư về các vấn đề triết học liên quan tới nhà nước và pháp luật hiện nay có thể tiến hành?

Ví dụ: trong lý luận triết học pháp luật được phổ biến ở các nước phát triển, câu chuyện về mối quan hệ giữa pháp luật và công lý là chủ đề có tính kinh điển của hai trường phái triết học pháp luật chủ đạo là trường phái pháp luật tự nhiên (natural law) và trường phái pháp luật thực chứng (legal positivism).
Với xu hướng triết học trong nghiên cứu khoa học pháp lý như vậy, phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ đạo ở đây là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, suy luận logic.

4. Xu thế nghiên cứu thực chứng về pháp luật

Xu hướng này có nhiều trường phái khác nhau. Xin đơn cử 2 trường phái đang có ảnh hưởng quan trọng:
Thứ nhất, trường phái xã hội học pháp luật (Sociology of Law hoặc Law and Society). Trường phái này là một phân nhánh của khoa xã hội học, nghiên cứu pháp luật trong bối cảnh xã hội sản sinh ra pháp luật ấy.[4] Trường phái này là sự tiếp nối tư tưởng nghiên cứu pháp luật từ thời La Mã cổ đại, được kế tục trong thời kỳ khai sáng với các học giả quan trọng như Hobbes, Locke, Montesquieu và Rousseau. Tuy nhiên, khi xã hội học được ra đời nhờ sự đóng góp của August Comte (1798-1857), Emile Durkheim (1958-1917), Max Weber (1864-1920), và Roscoe Pound (1870-1964), thì nền tảng lý luận xã hội học pháp luật được củng cố vững chắc hơn. Ở chừng mực nhất định, tư tưởng của Marx về pháp luật cũng có thể được xếp và trường phái xã hội học pháp luật.

Thứ hai, trường phái kinh tế học pháp luật (Law and Economics) hoặc kinh tế học thể chế (Institutional Economics). Trường phái này nhấn mạnh tới mối tương tác giữa pháp luật với quá trình phân bổ nguồn lực khan hiếm trong xã hội. Theo lý luận của trường phái này, pháp luật có vai trò quan trọng đối với sự phân bổ nguồn lực tối ưu trong xã hội (có thể khuyến khích hoặc ngăn cản các hoạt động tối ưu hóa sử dụng nguồn lực trong xã hội). Trường phái này được xây dựng dựa trên một giả định quan trọng (nhưng là thứ giả định mang tính giản lược và có phần siêu hình) về bản chất của con người, bản chất hành vi của con người. Theo đó, cá nhân con người trong đời sống hiện thực đều là những con người có hai đặc điểm là “vị lợi” (self-interested) và “duy lý” (rational). Điều này hàm ý rằng, hành vi của mỗi con người là sản phẩm của sự chọn lựa duy lý (có cân nhắc tính toán thiệt/hơn, lợi/hại) và bị thúc đẩy bởi nhân tố lợi ích (mong muốn tối đa hóa lợi ích của bản thân hoặc của người thân thích của mình).

Trong thực tế nghiên cứu hiện nay, hai trường phái này đều có sự đan xen, trộn lẫn nhau.
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu được sử dụng phổ biến cho hướng nghiên cứu này chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng. Phương pháp định tính sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu phổ biến như: phân tích dữ liệu có sẵn (nhất là văn bản, tài liệu có sẵn, trong đó có cả nhật ký, ghi chép của những người có liên quan), phỏng vấn để lấy ý kiến của các chuyên gia hoặc người có thông tin về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp định lượng sử dụng các kỹ thuật thống kê, tính toán để hình thành các số liệu cần thiết cho việc phân tích, đánh giá, rút ra kết luận khoa học cần thiết.

5. Xu hướng nghiên cứu luật học so sánh

Nghiên cứu luật học so sánh là một xu hướng nghiên cứu rất quan trọng và có ứng dụng rộng rãi trong công tác xây dựng pháp luật. Cốt lõi của việc nghiên cứu luật học so sánh không đơn thuần là đi so sánh, tìm hiểu, giải thích sự giống và khác nhau trong các quy định pháp luật hoặc trong các hiện tượng pháp lý ở các quốc gia khác nhau. Cốt lõi của nghiên cứu luật học so sánh hiện nay chính là tìm hiểu hiện tượng các ý tưởng pháp lý hoặc các giải pháp pháp lý, các quy phạm, chế định pháp lý, thiết chế pháp lý cụ thể đã “khuếch tán” như thế nào ra khỏi quê hương của mình. Nói cách khác, luật học so sánh quan tâm hàng đầu tới việc các hệ thống pháp luật của các quốc gia tương tác với nhau thế nào, có thể học hỏi được ở nhau những gì. Chính vì thế, trong những năm gần đây, lý thuyết luật so sánh được phát triển và ứng dụng rộng rãi hiện nay là lý thuyết cấy ghép pháp luật (hoặc lý thuyết tiếp nhận pháp luật nước ngoài) (legal transplantation theory). Lý thuyết này quan tâm giải quyết các vấn đề như:

  • Vì sao pháp luật quốc gia khác nhau lại quan tâm học hỏi lẫn nhau?
  • Trường hợp nào việc du nhập pháp luật của nước khác vào quốc gia mình sẽ thành công và trường hợp nào không thành công?
  • Khi một quy phạm/giải pháp pháp lý hoặc một chế định, thiết chế pháp lý được du nhập vào một quốc gia thì chúng sẽ bị biến đổi (khúc xạ) như thế nào so với thiết kế nguyên mẫu của mình.

Điều kỳ quặc là, dù nhiều học giả cho rằng quy phạm pháp luật/thiết chế pháp luật sau khi du nhập sẽ không còn giữ nguyên được tính năng, tác dụng ban đầu của mình, nhưng thực tế, vay mượn pháp luật, nhập khẩu, du nhập pháp luật vẫn là cách mà hàng loạt quốc gia sử dụng khi tiến hành cải cách pháp luật.
Ngày nay, xu hướng nghiên cứu so sánh đang có cơ hội phát triển mạnh mẽ, không chỉ trong lĩnh vực luật học mà cả trong nhiều lĩnh vực khác như: chính trị học so sánh (comparative politics), kinh tế học so sánh (comparative economic systems), chính sách công so sánh (comparative public policy), hành chính công so sánh (comparative public administration), tư pháp hình sự so sánh (comparative criminal justice systems) v.v.