CƠ SỞ PHÁP LÝ:

Hiến pháp ban hành ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2013

Bộ luật dân sự ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015

NỘI DUNG TƯ VẤN:

1. Năng lực chủ thể của cá nhân ?

Các yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân.

Khái niệm: Năng lực chủ thể của cá nhân là khả năng đề cá nhân có thể tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể và tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ mối quan hệ pháp luật đã tham gia.

Cấu thành bởi hai yếu :

- Khả năng do pháp luật quy định (năng lực pháp luật dân sự) là khả năng xem xét chủ thể nào là cá nhân, chủ thể nào không được thừa nhận trong từng quan hệ pháp luật cụ thể

- Khả năng tự có của chủ thể: căn cứ vào độ tuổi, mức độ nhận thức của cá nhân xem xét khả năng tham gia các quan hệ pháp luật nào.

>> Xem thêm:  Năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài là gì ?

Mối quan hệ giữa các yếu tố:

Hai yếu tố trên là cần và đủ để tạo nên Năng lực chủ thể của cá nhân.

- Năng lực pháp luật là tiền đề pháp lý cho chủ thể thực hiện năng lực hành vi, được hiểu đây là phạm vi các quyền do pháp luật quy định cho cá nhân, cá nhân chỉ được thực hiện các quyền trong phạm vi đó. Cá nhân được phép thực hiện những hành vi nhất định (pháp luật cho phép hoặc không cấm).

- Năng lực hành vi dân sự là “phương tiện” hiện thực hóa năng lực pháp luật dân sự.

Hiểu là: pháp luật ghi nhận các quyền cho chủ thể, chỉ được thành hiện thực khi chủ thể thực hiện bằng hành vi của mình.

- Năng lực pháp luật có khi sinh ra, Năng lực hành vi có khi đạt độ tuổi nhất định

- Năng lực pháp luật mọi cá nhân là như nhau, Năng lực hành vi không như nhau

- Năng lực pháp luật chấm dứt khi cá nhân chết, Năng lực hành vi chấm dứt ngay cả khi cá nhân còn sống. Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi và năng lực pháp luật.

2. Các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Khái niệm:

>> Xem thêm:  Năng lực trách nhiệm pháp lý là gì ? Quy định về năng lực trách nhiệm pháp lý

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả nằng bằng hành vi của minh xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự (Bộ luật dân sự năm 2015)

Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân:

Tiêu chí

Năng lực hành vi đầy đủ

Năng lực hành vi một phần

Không có năng lực hành vi

Hạn chế năng lực hành vi dân sự

Mất năng lực hành vi

Độ tuổi của chủ thể

Người thành niên – đủ 18 tuổi trở lên có Năng lực hành vi Dân Sự đầy đủ, trừ trường hợp bị tuyên bố mất, hạn chê Năng lực hành vi

Người từ đủ 6 đến dưới 18 tuổi là người có Năng lực hành vi dân sự một phần

Người chưa đủ 6 tuổi không có năng lực hành vi dân sự.

không có độ tuổi

Không có độ tuổi. Người có năng lực hành vi dân sự nhưng do một sự kiện, hiện tượng mà mất Năng lực hành vi.

Người thực hiện giao dịch dân sự

Người này có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách chủ thể độc lập và chịu trách nhiệm với hành vi do họ thực hiện

Người có năng lực hành vi một phần là người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định

Mọi giao dịch dân sự của người này đều do người đại diện xác lập và thực hiện. Do người này không đủ Năng lực hành vi điều khiển hành vi và hậu quả của hành vi đó.

Người nghiện ma túy, các chết kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Mọi giao dịch dân sự của người này đều do người đại diện họ xác lập và thực hiện

Ý nghĩa: các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân thể hiện khả năng xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân. Căn cứ vào việc xác định các mức độ hành vi dân sự của cá nhân có thể xác định được đầy đủ tư cách của cá nhân trong các quan hệ dân sự về hành vi do họ thực hiện.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân ?

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân quy định tại điều 16 Bộ luật dân sự năm 2015 “Năng lực dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền và có nghĩa vụ dân sự."

Năng lực pháp luật dân sự của một người là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền và có nghĩa vụ.

Đặc điểm của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:

- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; hình thái kinh tế tại một thời điểm lịch sử nhất định.

- Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật khoản 2 Điều 14 quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật như nhau”. năng lực pháp luật k bị hạn chế bởi bất cứ lý do nào.

>> Xem thêm:  Năng lực pháp luật là gì ? Quy định về năng lực pháp luật

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân và Quyền dân sự chủ quan của cá nhân: năng lực pháp luật là tiền đề cho công dân có các quyền dân sự cụ thể chứ bản thân nó không phải là quyền.

- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định cho tất cả cá nhân, nhưng Nhà nước cũng không cho phép công dân tự hạn chế Năng lực pháp luật dân sự của chính họ.

Điều 18 Bộ luật dân sự năm 2015 : “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không thể bị hạn chế trừ trường hợp do pháp luật quy định”. Như vậy theo quy định của pháp luật, cá nhân có thể bị hạn chế Năng lực pháp luật dân sự theo hai dạng:

+ Văn bản Pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được phép thực hiện các giao dịch dân sự cụ thể. Ví dụ: không được kinh doanh những nghề nhất định.

+ Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ: tòa án quyết định cấm cư trú với người nào đó trong khoảng thời gian xác định.

Về bản chất chỉ là tạm đình chỉ khả năng chứ không phải tước bỏ Năng lực pháp luật dân sự.

- Tính đảm bảo của BL pháp luật dân sự. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luật đã quy định cho các chủ thể, để biến những “Khả năng” thành quyền ds cụ thể cần nhiều điều kiện khách quan (kinh tế, xã hội, chính sách của đảng) và điều kiện chủ quan khác.

4. Hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Khái niệm :

Năng lực hành vi Dân sự là gì?

>> Xem thêm:  Năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài là gì ? Cho ví dụ

Năng lực hành vi dân sự của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ tục được quy định tại điều 25 Bộ luật dân sự .

Năng lực hành vi của một người thành niên bị hạn chế năng lực hành vi một phần của người đủ 6 tuổi tới chưa đủ 18 tuổi.

- Người từ đủ 6 tới chưa đủ 18 tuổi mặc nhiện được công nhận là năng lực hành vi đầy đủ khi đủ độ tuổi nhất định

- Người được coi là hạn chế năng lực hành vi dân sự phải thông qua Tòa án theo trình tự tố tụng dân sự và được áp dụng với người “nghiện ma túy và các chất kích thích” dẫn tới “phá tán tài sản của gia đình”

Khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải căn cứ vào tình hình thực tế và theo yêu cầu của những người có quyền , lợi ích liên quan, tổ chức hữu quan, Tòa án mới có thể tuyên bố.

Người đại diện theo pháp luật của người hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi do Tòa án quyết định. giao dịch dân sự của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện, trừ giao dịch nhằm phục vụ sinh hoạt hàng ngày.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền lợi liên quan, cơ quan hữu quan, Tòa án tuyên hủy bỏ quyết định

Hậu quả pháp lý của việc hạn chế năng lực hành vi dân sự: tư cách chủ thể của những người này như người có năng lực hành vi một phần.

5. Mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân ?

Khái niệm “Mất”: sự đang tồn tại của một hiện tượng sự vật, sau đó không còn nữa.

>> Xem thêm:  Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là gì ? Đặc điểm, nội dung của năng lực pháp luật dân sự

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân cũng là thuộc tính nhân thân của cá nhân và đầy đủ khi đến tuổi thành niên. Cá nhân bị tuyên bố là bị mất năng lực hành vi dân sự nếu có đủ điều kiện, với trình tự, thủ tục nhất định. Nếu cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và điều khiển hành vi của mình thì được coi là mất năng lực hành vi dân sự ( Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015 ).

Tuyên bố là Mất năng lực hành vi dân sự: Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền và theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan.

Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự: Không còn những nguyên nhân trên và theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan.

Mọi giao dịch dân sự của Người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện của họ xác lập, thực hiện.

18. Tuyên bố mất tích đối với cá nhân: điều kiện, hậu quả pháp lý ?

Cơ sở pháp lý: Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 .

Điều kiện: Một người được coi là mất tích nếu

+ Biệt tích từ hai năm liền trở lên

+ Phải hoàn thành các thủ tục thông báo, tìm kiếm người vắng mặt. Đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng không có tin tức.

+ Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

- Biệt tích hai năm trở lên không có một tin tức gì, các căn cứ xác định tin tức theo điều 64 của Bộ luật dân sự năm 2015 :

+ Nơi cư trú cuối cùng của cá nhân được xác định tại mục 3, chương III- Phần thứ nhất Bộ luật dân sự năm 2015 .

+Về chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố một người mất tích đó là người có mối liên hệ nào đó mà quyền lợi của họ bị ảnh hưởng khi vắng mặt chủ thể này. Về nguyên tắc, người nào có tài sản liên quan tới người biệt tích sẽ bị thiệt hại nếu không tuyên bố người đó mất tích > họ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích.

+ Thời hạn 2 năm tính theo quy định khoản 1 Điều 68.( sau khi đã thông báo, tìm kiếm người vắng mặt với thời hạn luật định)

- Từ ngày biết được tin tức cuối cùng của người đó, người có quyền lợi có quyền yêu cầu Tòa tuyên bố người đo mất tích.

Hậu quả pháp lý:

Hậu quả của việc tuyên bố một người là mất tích:

Về Tài sản: Tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ quản lý theo quyết định của Tòa án theo quy định tại điều 65, 66, 67, 69.

- Đối với Tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì ng quản lý tiếp tục quản lý.

- Tài sản chung do chủ sở hữu còn lại quản lý.

- Tài sản do vợ chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý

- Nếu những trường hợp được nói không có, Tòa chỉ định người thân thích của người vắng mặt là người quản lý

Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích và Chấm dứt tư cách chủ thể.

Về Hôn nhân: Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì tòa giải quyết cho ly hôn.

Hủy bỏ việc quyết định tuyên bố mất tích:

Giải quyết theo hai phương hướng – Phục hồi năng lực chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể.

Phục hồi tư cách chủ thể xảy ra khi:

+ Người tuyên bố mất tích trở về

+ có tin tức chứng tỏ người đó còn sống

Theo yêu cầu của người đó hoặc người có lợi ích liên quan ,Tòa ra quyết định hủy bỏ việc tuyên bố mất tích; Người bị tuyên bố mất tích trở về có thể yêu cầu người quản lý trả lại tài sản, còn quyết định ly hôn vẫn có hiệu lực

Chấm dứt tư cách chủ thể: khi có tin tức cho rằng họ đã chết hoặc bị tuyên bố là đã chết.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các yêu cầu nào đặt ra để Tòa án để tuyên bố một người mất tích?

Trả lời:

Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Câu hỏi: Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi đến đâu?

Trả lời:

 Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Câu hỏi: Vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì có được giải quyết không?

Trả lời:

Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.