1. Căn cứ vào phạm vì thương lượng tập thể

Theo căn cứ này, thoả ước lao động tập thể gồm có các loại sau đây:

- Thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp

Thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp là loại thoả ước lao động tập thể được kí kết giữa một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao động trong doanh nghiệp với người sử dụng lao động về các điều kiện lao động mà hai bên đã đạt được thông qua thương lượng tập thể ở phạm vi doanh nghiệp. Trong các loại thoả ước lao động tập thể thì loại thoả ước tập thể doanh nghiệp là loại phổ biến nhất. Do chỉ trong phạm vi doanh nghiệp nên các bên cũng có sự hiểu biết lẫn nhau nên dễ đạt được những thoả thuận chung khi thương lượng tập thể.

Ngoài ra, ở một số quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, xuất phát từ các doanh nghiệp sản xuất theo công nghệ hiện đại có quy mô lớn, tính chuyên môn hoá cao, các bộ phận của doanh nghiệp tương đối độc lập và có những yêu cầu khác nhau về điều kiện lao động và sử dụng lao động nên có thể thương lượng và kí kết loại thoả ước lao động tập thể bộ phận doanh nghiệp.

Ở Việt Nam, thoả ước lao động tập thể chủ yếu được kí kết trong phạm vi một doanh nghiệp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp nếu có các điều kiện lao động, sử dụng lao động tương đồng, có thể kí kết loại thoả ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.

- Thoả ước lao động tập thể cấp ngành, cấp liên ngành

Thoả ước lao động tập thể cấp ngành, liên ngành được kí kết giữa tổ chức đại diện người lao động cấp ngành, liên ngành với đại diện người sử dụng lao động của ngành hoặc liên ngành đó. Thoả ước lao động tập thể này được kí kết sẽ thống nhất được chế độ lao động, tiền lương trong phạm vi toàn ngành, liên ngành nên hạn chế được xung đột và tranh chấp trong phạm vi ngành và liên ngành. Tuy nhiên, việc kí kết thoả ước lao động tập thể ở cấp độ này thường khó hơn so với việc kí kết thoả ước lao động tập thể cấp doanh nghiệp, bởi đòi hỏi cần có sự tương đồng giữa các doanh nghiệp trong ngành về điều kiện lao động cũng như điều kiện sử dụng lao động. Hơn nữa, vấn đề đại diện kí kết cũng là vấn đề đặt ra với loại thoả ước lao động tập thể này, đặc biệt ở những quốc gia có đa tổ chức công đoàn. Pháp luật Việt Nam hiện hành đã thừa nhận và quy định cụ thể trong Bộ luật lao động năm 2019 về thoả ước lao động tập thể ngành song chưa quy định về thoả ước lao động tập thể cấp liên ngành.

- Thoả ước lao động tập thể cấp vùng, địa phương

Đây là loại thoả ước lao động tập thể được kí kết giữa tổ chức đại diện người lao động của vùng, địa phương với tổ chức đại diện người sử dụng lao động vùng, địa phương. Loại thoả ước lao động tập thể này thường được thực hiện ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, hoạt động sản xuất, kinh doanh tương đối ổn định, được tổ chức thành các khu kinh tế hoặc khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, như Đức, Áo, Pháp,... Thoả ước lao động tập thể cấp vùng, địa phương được kí kết sẽ thống nhất được chế độ lao động của các doanh nghiệp trong vùng, địa phương nên sẽ hạn chế được các tranh chấp lao động trong phạm vi của cả vùng, địa phương đó. Tuy nhiên, vì loại thoả ước lao động tập thể này được kí kết ở phạm vi rộng, liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của nhiều lao động, nhiều doanh nghiệp nên việc đàm phán, thương lượng thường rất phức tạp, khó thành công. Ở Việt Nam, pháp luật chưa quy định cụ thể về loại thoả ước lao động tập thể này.

- Thoả ước lao động tập thể cấp quốc gia

Đây là loại thoả ước lao động tập thể được kí kết giữa tổ chức đại diện người lao động cấp quốc gia với tổ chức đại diện người sử dụng lao động cấp quốc gia. Loại thoả ước lao động tập thể này cũng thường được kí kết ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển như Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy. Thoả ước lao động tập thể cấp quốc gia được kí kết sẽ thống nhất được chế độ lao động của các đơn vị sử dụng lao động ở phạm vi quốc gia và ngăn ngừa những tranh chấp lao động có thể xảy ra ở phạm vi quốc gia, giúp cho quan hệ lao động ổn định hài hoà và phát triển. Cũng như loại thoả ước lao động tập thể cấp liên ngành và thoả ước lao động tập thể cấp vùng, địa phương, loại thoả ước này chưa được pháp luật lao động Việt Nam quy định.

Ngoài ra, còn có loại thoả ước lao động tập thể cấp quốc tế. Đây là văn bản được kí kết giữa tổ chức đại diện người lao động cấp quốc tế với tổ chức đại diện giới chủ cấp quốc tế. Trên thực tế, có hai loại thoả ước lao động tập thể được kí kết ở cấp này, đó là thoả ước lao động tập thể đa quốc gia hay còn gọi là thoả thuận khung quốc tế (IFA) và thoả ước lao động tập thể cấp khu vực (ví dụ thoả ước lao động tập thể cấp EU).

2. Căn cứ vào thời hạn của thoả ước lao động tập thể

Theo căn cứ này, có thể chia thoả ước lao động tập thể ra làm hai loại:

- Thoả ước lao động tập thể xác định thời hạn

Thoả ước lao động tập thể xác định thời hạn là loại thoả ước lao động tập thể mà trong đó các bên xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực của thoả ước sau một khoảng thời gian thực hiện nhất định. Đây là loại thoả ước lao động tập thể được kí kết phổ biến ở các quốc gia, bởi nội dung của loại thoả ước lao động tập thể này thường chứa đựng các vấn đề nhanh thay đổi như việc làm, tiền lưong, tiền thưởng... Hoặc ở một số ngành nghề, công việc, do đặc trưng riêng về quá trình sản xuất, kinh doanh, điều kiện lao động luôn thay đổi, các bên cần thương lượng lại sau một thời gian thực hiện cho phù họp với điều kiện thực tế. Thông thường thoả ước lao động tập thể xác định thời hạn được xác định thời hạn từ 01 đến 03 năm, ví dụ ở Thuỵ Điển, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc. Tại Việt Nam, thoả ước lao động tập thể cũng có thời hạn từ 01 đến 03 năm. Thời hạn cụ thể do các bên thoả thuận và ghi trong thoả ước lao động tập thể. Ở một số quốc gia khác, thoả ước lao động tập thể có thời hạn 04 năm như Italia (trong mọi ngành nghề), Latvia (trong một số ngành như ngành điện và năng lượng), Đan Mạch (trong một số ngành nghề thuộc khu vực tư nhân)... Hoặc như ở Pháp, Thụy Sĩ, thoả ước lao động tập thể có thời hạn 05 năm. Ở Canada, thoả ước lao động tập thể có thời hạn dài nhất với 117 tháng, được kí kết cho khu vực nhà nước và một số thoả ước có thời hạn 72 tháng được kí kết cho khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, ở một số quốc gia, thoả ước lao động tập thể có thời hạn rất ngắn như ở Pháp, thời hạn 4 tháng đối với ngành công nghiệp hoá chất và 6 tháng đối với ngành dược.

Về nguyên tắc, thoả ước lao động tập thể xác định thời hạn sẽ chấm dứt hiệu lực khi hết thời hạn ghi trong thoả ước. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho các bên thương lượng tập thế, kí kết thoả ước lao động tập thể mới để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên, pháp luật các quốc gia đều quy định các bên được kéo dài thời hạn của thoả ước hoặc áp dụng thoả ước đã kí kết cho đến khi có thoả ước mới, ví dụ ở Đan Mạch, Đức, Luxembourg, Việt Nam.

- Thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn

Thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn là loại thoả ước lao động tập thể mà các bên không xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực trong thoả ước. Thông thường, loại thoả ước lao động tập thể này điều chỉnh những vấn đề mang tính nguyên tắc và điều kiện lao động nền tảng cho thị trường lao động, nhằm đến những vấn đề ổn định lâu dài như quyền và nghĩa vụ các bên, môi trường lao động, bình đẳng cơ hội... Thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn thường là những thoả ước cấp quốc gia hoặc thoả ước liên ngành, phổ biến ở những quốc gia có hệ thống thoả ước lao động tập thể phát triển cao như Pháp, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch... Tại Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á, loại thoả ước này chưa được thừa nhận nhưng riêng ở Campuchia, loại thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn lại được quy định từ năm 1997.

Thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn chỉ chấm dứt khi có thoả thuận chung giữa các bên hoặc đon phương chấm dứt của một bên. Trong trường hợp thoả ước lao động tập thể không xác định thời hạn được đơn phương chấm dứt thì bên đơn phương chấm dứt phải báo cho bên khi biết trước một khoảng thời gian nhất định. Ví dụ, ở Phần Lan và Pháp, thời gian báo trước là 3 tháng; ở Thụy Điển, thời gian báo trước do các bên thoả thuận.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)