Cơ sở pháp lý liên quan và được sử dụng trong bài viết:

- Nghị quyết 116/NQ-CP;

- Công văn 3818/BHXH-CSXH hướng dẫn bổ sung thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

Chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1. Mục đích hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19

- Thể hiện được sự quan tâm, chia sẻ của Đảng, Nhà nước đối với người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

- Góp phần hỗ trợ người lao động khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, chống đứt gãy chuỗi cung ứng lao động và thiếu hụt lao động.

- Hỗ trợ người sử dụng lao động giảm chi phí, nỗ lực thích ứng với trạng thái bình thường mới, duy trì sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động.

- Phát huy vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp là chỗ dựa cho người lao động và người sử dụng lao động.

2. Nguyên tắc hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19

- Việc hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ và công bằng đối với người lao động và người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

- Việc thực hiện chính sách đặt trong cân đối tổng thể chung các nguồn lực của Nhà nước, các quỹ, các nguồn hỗ trợ khác. Có tính tới sự khác biệt và ưu tiên một số đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19.

- Việc thực hiện hỗ trợ đối với người lao động, người sử dụng lao động phải đơn giản, kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch và hiệu quả.

- Không áp dụng đối với đối tượng tự nguyện không nhận hỗ trợ.

3. Hỗ trợ bằng tiền cho người lao động bị ảnh hưởng do COVID-19 từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Đối tượng áp dụng

- Người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2021 (không bao gồm người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).

- Người lao động đã dừng tham gia bảo hiểm thất nghiệp do chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2021 có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu theo quy định của pháp luật về việc làm, không bao gồm người hưởng lương hưu hàng tháng.

Mức hỗ trợ

Mức hỗ trợ trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động, cụ thể như sau:

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng: hỗ trợ 1.800.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng: hỗ trợ 2.100.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng: hỗ trợ 2.400.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng: hỗ trợ 2.650.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng: hỗ trợ 2.900.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên: hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.

Nguồn kinh phí hỗ trợ 

Khoảng 30.000 tỷ đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp đến hết năm 2020.

Thời gian thực hiện việc hỗ trợ

Về thời gian thuwjd hiện việc hỗ trợ người lao động từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 và hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12 năm 2021.

4. Tính tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 116/NQ-CP do xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp 

Trong đó, hướng dẫn nguyên tắc điều chỉnh thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ tính mức hỗ trợ theo Nghị quyết 116/NQ-CP do xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, gộp sổ bảo hiểm xã hội như sau:

Trường hợp đã hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp từ 36 tháng trở lên thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận bổ sung sẽ được cộng dồn để làm cơ sở tính hưởng hỗ trợ khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn P có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 42 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng và số tháng lẻ được bảo lưu là 06 tháng. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, ông P được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 08 tháng, như vậy, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông P làm căn cứ xác định mức hỗ trợ là bằng 14 tháng.

- NLĐ có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đã được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp dưới 36 tháng thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung sẽ được cộng dồn để làm cơ sở tính hưởng hỗ trợ khi đáp ứng đủ điều kiện theo nguyên tắc:

Số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp làm cơ sở tinh hưởng mức hỗ trợ = (số tháng đóng đã xét hưởng TCTN + số tháng xác nhận bổ sung) - (số tháng không tương ứng với thời gian đã nhận tiền TCTN + số tháng đóng tương ứng số tháng bị tạm dừng hưởng TCTN). Trong đó, cứ 01 tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc 01 tháng bị tạm dừng hưởng TCTN tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Trường hợp không được bảo lưu do vi phạm quy định về việc khai báo tìm kiếm việc làm theo quy định của Nghị định 61/2020/NĐ-CP thì thời gian làm cơ sở tạm tính mức hỗ trợ = (số tháng đóng đã hết hưởng trợ cấp thất nghiệp + Số tháng xác nhận bổ sung) - 36 tháng.

Ví dụ 2: Ông Nguyễn Văn Q có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 13 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng và ông Q đã hưởng đủ 03 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi chấm dứt hướng trợ cấp thất nghiệp, ông Q được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 07 tháng. Như vậy, ông Q có tổng thời gian đóng BHTN là 20 tháng, đã hưởng 03 tháng TCTN tương ứng với 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp nên ông Q có tổng số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính hưởng mức hỗ trợ bằng 0 tháng.

Ví dụ 3: Ông Nguyễn Văn R có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 25 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng và ông R đã hưởng đủ 03 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi chấm dứt hướng trợ cấp thất nghiệp, ông R được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 15 tháng. Như vậy, ông R có tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 40 tháng, đã hướng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp nên ông R có số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tính hưởng mức hỗ trợ là bằng 04 tháng.

Ví dụ 4: Ông Nguyễn Văn S có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 16 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng. Ông S hưởng trợ cấp thất nghiệp 01 tháng thì có việc làm, do đó, ông bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp và được bảo lưu 04 tháng đóng BHTN. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp ông được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy ông S có số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tinh hưởng mức hỗ trợ là bằng 16 tháng.

Ví dụ 5: Ông Nguyễn Văn T có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 16 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng. Ông T được hưởng trợ cấp thất nghiệp 02 tháng thì có việc làm, do đó, ông bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp và không được bảo lưu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp ông T được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, ông T có tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 28 tháng, đã hưởng 02 tháng trợ cấp thất nghiệp tương ứng với 24 tháng đóng BHTN nên ông T có số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tính hưởng mức hỗ trợ là bằng 04 tháng

Ví dụ 6: Bà Bùi Thị V có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 29 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp 03 tháng. Bà V đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng thứ nhất và tháng thứ ba; tháng hưởng TCTN thứ 2 bà bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp do không thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp bà được cơ quan BHXH xác nhận bổ sung 08 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, bà V có tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 37 tháng, đã hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng (bao gồm cả đã hưởng và tạm dừng hưởng) tương ứng với 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp nên bà V có số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tính hưởng mức hỗ trợ là bằng 01 tháng.

Trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp

Trường hợp đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại thời điểm 30/9/2021 mà được xác nhận bổ sung thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp thì thực hiện điều chỉnh lại thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ hưởng trợ cấp thất nghiệp trước khi giải quyết hưởng hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo Nghị quyết 116/NQ-CP.

Sau khi đã tính được số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính hưởng hỗ trợ theo Nghị quyết 116/NQ-CP thì dựa vào bảng dưới đây để xác định mức hỗ trợ:

Mức hỗ trợ trên cơ sở thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động, cụ thể như sau:

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp dưới 12 tháng: hỗ trợ 1.800.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng đến dưới 60 tháng: hỗ trợ 2.100.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 60 tháng đến dưới 84 tháng: hỗ trợ 2.400.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 84 tháng đến dưới 108 tháng: hỗ trợ 2.650.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 108 tháng đến dưới 132 tháng: hỗ trợ 2.900.000 đồng/người.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 132 tháng trở lên: hỗ trợ 3.300.000 đồng/người.

(MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).