1. Quy định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp cho người lao động

Căn cứ dựa theo quy định tại Điều 50 Luật Việc làm 2013. Có quy định như sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng:

  • Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa:

  • Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa được xác định dựa trên đối tượng người lao động, gồm hai nhóm chính:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:

  • Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không quá 5 lần mức lương cơ sở.
  • Mức lương cơ sở là 1.800.000 đồng/tháng, do đó, mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là: 5 x 1.800.000 = 9.000.000 đồng/tháng.

Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định:

  • Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
  • Cụ thể, mức lương tối thiểu vùng năm 2023 được quy định như sau:
    • Vùng I: Mức lương tối thiểu là 4.680.000 đồng/tháng, do đó mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là: 5 x 4.680.000 = 23.400.000 đồng/tháng.
    • Vùng II: Mức lương tối thiểu là 4.160.000 đồng/tháng, do đó mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là: 5 x 4.160.000 = 20.800.000 đồng/tháng.
    • Vùng III: Mức lương tối thiểu là 3.640.000 đồng/tháng, do đó mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là: 5 x 3.640.000 = 18.200.000 đồng/tháng.
    • Vùng IV: Mức lương tối thiểu là 3.250.000 đồng/tháng, do đó mức trợ cấp thất nghiệp tối đa là: 5 x 3.250.000 = 16.250.000 đồng/tháng.

Như vậy, tùy thuộc vào việc người lao động thuộc đối tượng nào và mức lương tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng sẽ được tính toán và giới hạn cụ thể. Điều này nhằm đảm bảo người lao động có thể duy trì cuộc sống trong thời gian tìm kiếm công việc mới, đồng thời tránh việc trợ cấp vượt quá mức cần thiết đối với các khu vực có mức sống khác nhau

 

2. Người nghỉ hưu chưa nhận thất nghiệp lần nào có được nhận tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp không?

Căn cứ theo Luật Việc làm 2013, thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cụ thể, người lao động đóng đủ từ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng thêm đủ 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp, nhưng tổng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa không quá 12 tháng. Như vậy, người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp chỉ được hưởng tối đa 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, tương đương với 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Thời gian đóng vượt quá 144 tháng không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp, nhưng có thể được bảo lưu theo quy định hiện hành. (Xem thêm hướng dẫn bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng tại đây).

Ngoài ra, theo điểm b khoản 1 Điều 49 Luật Việc làm 2013, người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Do đó, người nghỉ hưu chưa nhận trợ cấp thất nghiệp lần nào sẽ không thuộc diện được nhận lại tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Tuy nhiên, tại dự thảo Luật Việc làm đang lấy ý kiến theo hướng bảo vệ quyền lợi của người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 144 tháng mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp lần nào. Theo đó, người lao động sẽ không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp nữa nếu đã đóng đủ 144 tháng.

Phần bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động đã đóng dư có thể được chuyển sang các chế độ khác của BHXH để tăng quyền lợi cho người lao động khi nghỉ hưu. Điều này nhằm tránh tình trạng người lao động đã đóng dư tiền vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp nhưng chỉ được nhận tối đa 12 tháng trợ cấp, gây thiệt thòi cho họ.

Đối với những trường hợp người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp suốt đời, đến khi nghỉ hưu vẫn chưa nhận trợ cấp thất nghiệp lần nào, nên có một khoản chi trả từ phần bảo hiểm thất nghiệp mà họ đã đóng dư. Việc chi trả lại khoản dư này có thể dựa trên tỷ lệ phần trăm người lao động đã đóng. Theo Điều 57 Luật Việc làm 2013, mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:

  • Người lao động đóng tối đa 1% tiền lương tháng.
  • Người sử dụng lao động đóng tối đa 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
  • Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.

Do đó, khi về hưu, BHXH có thể chi trả lại cho người lao động đã đóng dư bằng số tiền người lao động đã đóng, còn phần 1% do doanh nghiệp đóng và 1% Nhà nước hỗ trợ có thể giữ lại làm quỹ chung hỗ trợ cho người lao động thất nghiệp. Điều này giúp đảm bảo lợi ích của người lao động, giúp họ có thêm một khoản tiền để cuộc sống khi nghỉ hưu được chu toàn hơn.

 

3. Những ai được nhận trợ cấp thất nghiệp?

Căn cứ theo quy định tại Điều 49 Luật Việc làm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp có quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

Điều kiện 1: Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc

Người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau:

  • Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trái pháp luật.
  • Người lao động đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

Điều kiện 2: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian quy định

Người lao động cần đáp ứng yêu cầu về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp như sau:

  • Đối với hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc có xác định thời hạn: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.
  • Đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng.

Điều kiện 3: Nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp đúng quy định

Người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo các quy định sau:

  • Trong vòng 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

Điều kiện 4: Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ

Người lao động chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau:

  • Đang thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc nghĩa vụ công an.
  • Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên.
  • Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Bị tạm giam hoặc chấp hành hình phạt tù.
  • Ra nước ngoài định cư hoặc đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng.
  • Đã qua đời.

Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chấm dứt hợp đồng, thời gian đóng bảo hiểm, nộp hồ sơ đúng thời hạn và chưa tìm được việc làm sau thời gian quy định. Những quy định này nhằm đảm bảo người lao động được hỗ trợ khi mất việc làm, đồng thời giúp họ có thời gian tìm kiếm công việc mới một cách hợp lý.

 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của chúng tôi về bảo hiểm thất nghiệp, nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết

Tham khảo thêm: Bảo hiểm thất nghiệp là gì? Ai phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp?