1. Hiểu thế nào về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường?

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2018, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường được định nghĩa một cách cụ thể như sau: khi doanh nghiệp sở hữu vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền và sử dụng nó một cách lạm dụng, tạo ra tác động hoặc có khả năng tạo ra tác động hạn chế đối với sự cạnh tranh.

Sự lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường là một hành vi không công bằng và thiếu minh bạch, mà mục tiêu chính của nó là hạn chế hoặc loại trừ sự cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh cụ thể. Điều này thường xảy ra khi một doanh nghiệp sở hữu một lượng quyền lực lớn trong thị trường và sử dụng nó để kiểm soát hoặc áp đặt các điều kiện không công bằng lên các đối thủ cạnh tranh. Khi doanh nghiệp thống lĩnh thị trường có sức ảnh hưởng lớn đến mức có thể kiểm soát giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, hoặc khả năng tiếp cận nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ, họ có thể lợi dụng vị trí của mình để hạn chế sự cạnh tranh và tạo ra lợi ích không công bằng cho chính mình.

Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền cũng được coi là một dạng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Khi doanh nghiệp sở hữu một vị trí độc quyền, nghĩa là họ có quyền độc nhất để cung cấp một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể mà không có sự cạnh tranh trực tiếp từ các đối thủ khác, họ có thể sử dụng vị trí này để tạo ra các rào cản không công bằng và hạn chế sự cạnh tranh. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và người tiêu dùng bởi vì nó tạo ra một môi trường kinh doanh không công bằng và ngăn chặn sự phát triển của các doanh nghiệp mới muốn tham gia vào thị trường.

Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền là những hành vi không công bằng và thiếu minh bạch do các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp thực hiện nhằm tăng cường và duy trì vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của mình bằng cách loại trừ các doanh nghiệp khác khỏi thị trường. Điều này có thể được thể hiện qua việc ngăn chặn, kìm hãm sự gia nhập và phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp khác hoặc thông qua việc bóc lột khách hàng để thu lợi nhuận độc quyền.

Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường thường xảy ra khi một doanh nghiệp sở hữu một quyền lực lớn và sử dụng nó để kiểm soát thị trường và áp đặt các điều kiện không công bằng lên các đối thủ cạnh tranh. Bằng cách tận dụng vị trí thống lĩnh này, doanh nghiệp có thể kiểm soát giá cả, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cũng như khả năng tiếp cận nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ. Điều này dẫn đến hạn chế sự cạnh tranh và tạo ra những lợi ích không công bằng cho chính doanh nghiệp đó.

Ngoài ra, các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền cũng góp phần vào việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Khi một doanh nghiệp sở hữu một vị trí độc quyền, tức là không có sự cạnh tranh trực tiếp từ các đối thủ khác trong việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể, doanh nghiệp này có thể tạo ra những rào cản không công bằng và hạn chế sự cạnh tranh. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường và người tiêu dùng, bởi vì nó tạo ra một môi trường kinh doanh không công bằng và ngăn chặn sự phát triển của các doanh nghiệp mới muốn tham gia vào thị trường.

 

2. Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường được xác định như thế nào?

Trong Điều 24 của Luật Cạnh tranh 2018, đã được quy định về vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp như sau:

- Để được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp phải có sức mạnh thị trường đáng kể, được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật này, hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

- Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi cùng nhau thực hiện các hành động gây hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể, được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật này. Đồng thời, tổng thị phần của nhóm doanh nghiệp thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Tổng thị phần 02 doanh nghiệp từ 50% trở lên trên thị trường liên quan.

+ Tổng thị phần 03 doanh nghiệp từ 65% trở lên trên thị trường liên quan.

+ Tổng thị phần 04 doanh nghiệp từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.

+ Tổng thị phần 05 doanh nghiệp trở lên từ 85% trở lên trên thị trường liên quan.

- Điều này không áp dụng cho doanh nghiệp có thị phần nhỏ hơn 10% trên thị trường liên quan khi xác định vị trí thống lĩnh thị trường theo khoản 2.

Để xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, Luật Cạnh tranh 2018 đã đề ra hai phương pháp sau:

Phương pháp 1: Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể, theo quy định tại Điều 26 của Luật Cạnh tranh 2018. 

Với việc xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường bằng các phương pháp trên, Luật Cạnh tranh 2018 nhằm tạo ra một môi trường công bằng và khuyến khích cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, ngăn chặn những hành vi độc quyền và hạn chế cạnh tranh có thể gây tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhỏ. Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp được xác định có vị trí thống lĩnh thị trường, các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp phòng ngừa và xử lý vi phạm theo quy định của Luật Cạnh tranh và các quy định liên quan khác.

Phương pháp 2: Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

Điều này có nghĩa là khi một doanh nghiệp chiếm giữ một tỷ lệ thị phần từ 30% trở lên trên một thị trường cụ thể, nó được xem như có vị trí thống lĩnh thị trường. Thị phần được đo lường dựa trên phần trăm doanh thu, số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ bán ra của doanh nghiệp so với tổng doanh thu, số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ của tất cả các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường tương ứng.

Phương pháp này giúp xác định một cách rõ ràng và đơn giản khi một doanh nghiệp đã đạt đến mức độ thống lĩnh thị trường. Việc có thị phần từ 30% trở lên cho thấy doanh nghiệp đó đang chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hoạt động kinh doanh trên thị trường liên quan.

Luật Cạnh tranh 2018 đã đưa ra các quy định này nhằm đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh và ngăn chặn các hành vi độc quyền và hạn chế cạnh tranh. Khi một doanh nghiệp được xác định có vị trí thống lĩnh thị trường theo phương pháp này, các cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa và xử lý vi phạm theo quy định của Luật Cạnh tranh và các quy định liên quan khác để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh.

 

3. Đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường sẽ phạt tiền như thế nào?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Luật Cạnh tranh 2018, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh được quy định như sau. Đầu tiên, nếu xảy ra hành vi vi phạm quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc lạm dụng vị trí độc quyền, mức phạt tiền tối đa sẽ là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, mức phạt tiền tối đa này sẽ thấp hơn mức phạt tiền thấp nhất đối với các hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự. Điều này có nghĩa là nếu mức phạt tiền tối đa theo Luật Cạnh tranh 2018 là thấp hơn mức phạt tiền tối thiểu theo Bộ luật Hình sự, thì mức phạt áp dụng sẽ là mức phạt tiền tối thiểu theo Bộ luật Hình sự.

Mục đích của việc quy định mức phạt tiền là để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Mức phạt tiền cao sẽ tạo ra áp lực kinh tế đủ mạnh để ngăn chặn và trừng phạt các hành vi vi phạm, đồng thời cũng có tác động đáng kể đến lợi nhuận và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có hành vi vi phạm.

Ngoài mức phạt tiền, Luật Cạnh tranh 2018 cũng có quy định về các biện pháp khác nhằm sửa chữa hậu quả của hành vi vi phạm cạnh tranh. Các biện pháp này bao gồm yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, yêu cầu sửa chữa, bồi thường thiệt hại, công bố thông tin về hành vi vi phạm, giám sát hoạt động sau khi vi phạm và áp dụng các biện pháp thuế hoặc tài chính khác để kiểm soát hành vi vi phạm.

Tổng hợp lại, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh được quy định linh hoạt theo Luật Cạnh tranh 2018, với mức phạt tiền tối đa là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, mức phạt tiền này sẽ không vượt quá mức phạt tiền thấp nhất quy định trong Bộ luật Hình sự. Mục đích là để đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong xử lý các hành vi vi phạm cạnh tranh và đồng thời thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh và cạnh tranh trong xã hội.

Xem thêm >> Vị trí thống lĩnh thị trường là gì ? Quy định về vị trí thống lĩnh thị trường

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!