1. Vị trí thống lĩnh thị trường là gì ?

Vị trí thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan mà nhờ vào vị trí ấy, doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có khả năng quyết định các điều kiện giao dịch trên thị trường độc lập với các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng ở mức độ đáng kể.

Trên thế giới, khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (market dominant position hoặc market dominance) được sử dụng lần đầu tiên tại Điều 86 (nay được đánh số lại là Điều 82) Hiệp định thành lập Cộng đồng châu Âu năm 1957. Tuy nhiên, cho tới năm 1972, thuật ngữ này mới được giải thích trong quyết định của Uỷ ban châu Âu xử lí vụ “Confinenfal Can”. Theo ủy ban châu Âu, "vị trí thống lĩnh thị trường" là mức độ tự do ý chí của doanh nghiệp trong việc ấn định giá và các điều kiện giao dịch khác trên thị trường mà không bị kiểm chế bởi áp lực cạnh tranh. Để có được mức độ tự do ấy, yếu tố về thị phần, lượng vốn và việc sở hữu công nghệ của doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng. Sáu năm sau đó, trong vụ United Brands (năm 1978) Toà công lí châu Âu chính thức định nghĩa vị trí thống lĩnh thị trường là một vị trí thể hiện sức mạnh kinh tế của một doanh nghiệp mà dựa vào đó doanh nghiệp có thể làm cho cạnh tranh trên thị trường liên quan không phát huy tác dụng và có thể hành xử độc lập ở mức độ đáng kể đối với các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và sau cùng là người tiêu dùng.

Mặc dù có những nét khá tương đồng, “vị trí thống lĩnh thị trường" theo quan điểm của pháp luật cạnh tranh của Cộng đồng châu Âu không đồng nghĩa với khái niệm “quyền lực thị trường” (market power) mà các nhà kinh tế hay sử dụng để đo lường khả năng chỉ phối giá cả của một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trên một thị trường nhất định. Luật cạnh tranh Cộng đồng châu Âu cho rằng "vị trí thống lĩnh thị trường" là một khái niệm pháp lí còn "quyền lực thị trường” là khái niệm thuộc về khoa học kinh tế. Tuy nhiên, ngày nay, để việc áp dụng lí thuyết kinh tế trong phân tích cạnh tranh được dễ dàng, nhiều học giả cho rằng việc làm rõ mối liên hệ giữa hai khái niệm kể trên là vô cùng cẩn thiết, Thực tế, các văn bản hướng dẫn thỉ hành Luật cạnh tranh của Vương quốc Anh đã chính thức giải thích “vị trí thống Iĩnh thị trường” là “quyền lực thị trường của doanh nghiệp ở mức độ cao".

Ở Việt Nam, khái niệm “vị trí thống Iĩnh thị trường" được quy định tại Luật cạnh tranh cũ năm 2004 (Luật cạnh tranh ở thời điểm hiện hành là Luật cạnh tranh năm 2018). Tuy nhiên, các nhà làm luật của Việt Nam không giải thích thế nào là "vị trí thống fĩnh thị trường' và cũng không giải thích "vị trí thống ĩnh thị trường" từ góc độ “quyền lực thị trường” mà thay vào đó, chỉ quy định rõ trường hợp nào thì một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường. Theo đó, doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể; nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp:

1) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần 50% trở lên trên thị trường liên quan;

2) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần 65% trở lên trên thị trường liên quan;

3) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan (Điều 11 Luật cạnh tranh cũ năm 2004).

2. Các tiêu chí xác định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

>> Xem thêm:  Tự do hóa thương mại và các vấn đề mới sau khi WTO vừa ra đời

2.1 Sức mạnh của thị trường đáng kể

Điều 26 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định về các tiêu chí xác định sức mạnh của thị trường đáng kể, cụ thể như sau:

"Điều 26. Xác định sức mạnh thị trường đáng kể

1. Sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp được xác định căn cứ vào một số yếu tố sau đây:

a) Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan;

b) Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp;

c) Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp khác;

d) Khả năng nắm giữ, tiếp cận, kiểm soát thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc nguồn cung hàng hóa, dịch vụ;

đ) Lợi thế về công nghệ, hạ tầng kỹ thuật;

e) Quyền sở hữu, nắm giữ, tiếp cận cơ sở hạ tầng;

g) Quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng quyền sở hữu trí tuệ;

h) Khả năng chuyển sang nguồn cung hoặc cầu đối với các hàng hóa, dịch vụ liên quan khác;

i) Các yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh.

2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này".

2.2 Thị trường liên quan

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Luật cạnh tranh năm 2018 định nghĩa về thị trường liên quan, cụ thể như sau:

"Thị trường liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận".

Cách xác định thị trường liên quan:

Căn cứ theo quy định tại Điều 9 Luật cạnh tranh năm 2018 thì thị trường liên quan được xác định dựa trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan trong đó được thể hiện như sau:

- Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.

- Thị trường địa lý liên quan là khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ được cung cấp có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận.

2.3 Thị phần

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Luật cạnh tranh năm 2018, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định theo một trong các phương pháp sau đây:

>> Xem thêm:  Chấp nhận chào hàng trong thương mại quốc tế là gì ?

- Tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm.

4. Doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Điều 20 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định về cách xác định doanh nghiệp và nhóm doanh nghiệp có vị trí thông lĩnh thị trường, cụ thể như sau:

"Điều 24. Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

1. Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật này hoặc có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan.

2. Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động gây tác động hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thị trường đáng kể được xác định theo quy định tại Điều 26 của Luật này hoặc có tổng thị phần thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan;

d) Năm doanh nghiệp trở lên có tổng thị phần từ 85% trở lên trên thị trường liên quan.

3. Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường quy định tại khoản 2 Điều này không bao gồm doanh nghiệp có thị phần ít hơn 10% trên thị trường liên quan".

5. Những hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm

>> Xem thêm:  Không có tư cách pháp nhân có được tham gia đấu thầu ?

Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật cạnh tranh năm 2018 quy định về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm, cụ thể như sau:

"Điều 27. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm

1. Doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực hiện hành vi sau đây:

a) Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ đối thủ cạnh tranh;

b) Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng;

c) Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho khách hàng;

d) Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau trong các giao dịch tương tự dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác;

đ) Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác trong ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác, khách hàng chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia, mở rộng thị trường hoặc loại bỏ doanh nghiệp khác;

e) Ngăn cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của doanh nghiệp khác;

g) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm theo quy định của luật khác.

2. Doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện hành vi sau đây:

a) Hành vi quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này;

b) Áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng;

c) Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng;

d) Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm theo quy định của luật khác".

Doanh ngiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.

Luật Minh Khuê (sưa tầm và phân tích)

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

Câu hỏi thường gặp về vị trí thống lĩnh thị trường ?

Câu hỏi: Khái niệm về vị trí thống lĩnh thị trường?

Trả lời:

Vị trí thống lĩnh thị trường là vị trí của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan mà nhờ vào vị trí ấy, doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có khả năng quyết định các điều kiện giao dịch trên thị trường độc lập với các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng ở mức độ đáng kể.

Câu hỏi: Như thế nào là thị trường liên quan?

Trả lời:

Thị trường liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả trong khu vực địa lý cụ thể có các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực địa lý lân cận.

Câu hỏi: Nguyên tắc xác định thị phần của doanh nghiệp trên thị trường?

Trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Luật cạnh tranh năm 2018, thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan được xác định theo một trong các phương pháp sau đây:

- Tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ bán ra của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm;

- Tỷ lệ phần trăm giữa số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của doanh nghiệp này với tổng số đơn vị hàng hóa, dịch vụ mua vào của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm.