- 1. Top các mẫu viết bài cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu chọn lọc hay nhất
- Mẫu 1: Cảm nhận đầy đủ, sâu sắc
- Mẫu 2: Cảm nhận ngắn gọn
- Mẫu 3: Cảm nhận tập trung vào nỗi nhớ
- Mẫu 4: Cảm nhận về bức tranh tứ bình
- Mẫu 5: Cảm nhận về tính sử thi
- Mẫu 6: Cảm nhận kết hợp nội dung và nghệ thuật
- Mẫu 7: Cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đầy đủ, chi tiết nhất
- 2. Dàn ý viết bài cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
1. Top các mẫu viết bài cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu chọn lọc hay nhất
Mẫu 1: Cảm nhận đầy đủ, sâu sắc
Bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu là một khúc hát ân tình thấm đượm nghĩa tình cách mạng. Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh chia tay lịch sử năm 1954, đã tái hiện chân thực và xúc động tình cảm gắn bó giữa người cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh chia tay đầy lưu luyến. Lối xưng hô “mình – ta” quen thuộc trong ca dao được vận dụng khéo léo, khiến tình cảm cách mạng trở nên gần gũi như tình cảm lứa đôi. Nỗi nhớ được khơi gợi từ những câu hỏi tha thiết của người ở lại, làm dâng lên cảm xúc bâng khuâng trong lòng người ra đi.
Theo dòng hồi tưởng, tác giả gợi lại những năm tháng kháng chiến gian khổ mà nghĩa tình. Đó là những ngày “mưa nguồn suối lũ”, cuộc sống thiếu thốn “miếng cơm chấm muối”, nhưng lại chan chứa tình người. Con người Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp giản dị, thủy chung, một lòng son sắt với cách mạng.
Đặc biệt, bức tranh tứ bình về thiên nhiên và con người Việt Bắc là điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc. Mỗi mùa mang một vẻ đẹp riêng, hài hòa giữa cảnh và người, làm nổi bật cuộc sống lao động bình dị mà tươi đẹp.
Không chỉ dừng lại ở nỗi nhớ, bài thơ còn tái hiện khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến. Những đoàn quân ra trận với sức mạnh như vũ bão đã khắc họa rõ nét tinh thần sử thi của dân tộc.
Có thể khẳng định, Việt Bắc là sự kết tinh giữa nội dung sâu sắc và nghệ thuật đậm đà tính dân tộc. Bài thơ không chỉ là lời tri ân quá khứ mà còn là bản tình ca bất diệt về nghĩa tình cách mạng.
Mẫu 2: Cảm nhận ngắn gọn
Việt Bắc là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Tố Hữu, thể hiện sâu sắc tình nghĩa cách mạng giữa cán bộ và nhân dân.
Bài thơ mở ra bằng cuộc chia tay đầy lưu luyến với lối xưng hô “mình – ta” giàu sắc thái dân gian. Nỗi nhớ được khơi gợi qua những kỉ niệm gian khổ nhưng đậm nghĩa tình nơi chiến khu. Thiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên giản dị mà đẹp đẽ, gắn bó hòa quyện.
Đặc biệt, hình ảnh những đoàn quân ra trận đã làm nổi bật khí thế hào hùng của dân tộc. Tất cả tạo nên một tác phẩm vừa trữ tình sâu lắng, vừa mang âm hưởng sử thi mạnh mẽ.
Mẫu 3: Cảm nhận tập trung vào nỗi nhớ
Nỗi nhớ là mạch cảm xúc xuyên suốt trong Việt Bắc. Đó không chỉ là nỗi nhớ của cá nhân mà còn là nỗi nhớ mang tầm vóc lịch sử.
Nỗi nhớ ấy trước hết là nhớ về con người Việt Bắc – những con người giản dị, nghĩa tình, luôn kề vai sát cánh cùng cách mạng. Tiếp đó là nỗi nhớ về thiên nhiên núi rừng với những hình ảnh vừa hoang sơ vừa thơ mộng.
Sâu xa hơn, nỗi nhớ còn là sự tri ân đối với quá khứ gian khổ nhưng hào hùng. Qua đó, tác giả khẳng định đạo lý thủy chung, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Mẫu 4: Cảm nhận về bức tranh tứ bình
Trong bài thơ Việt Bắc, bức tranh tứ bình là đoạn thơ đặc sắc nhất, thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của Tố Hữu.
Mỗi mùa trong năm đều mang một vẻ đẹp riêng: mùa đông ấm áp với sắc đỏ hoa chuối, mùa xuân tinh khôi với sắc trắng hoa mơ, mùa hạ rực rỡ với sắc vàng rừng phách, mùa thu dịu dàng trong ánh trăng hòa bình.
Điểm nổi bật là sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người. Trong mỗi bức tranh, con người luôn xuất hiện với vẻ đẹp lao động cần cù, tạo nên sức sống cho cảnh vật.
Đoạn thơ không chỉ đẹp về hình ảnh mà còn giàu nhạc điệu, thể hiện rõ phong cách thơ trữ tình đậm đà bản sắc dân tộc.
Mẫu 5: Cảm nhận về tính sử thi
Việt Bắc không chỉ là bản tình ca mà còn là bản hùng ca của thời đại.
Hình ảnh những đoàn quân ra trận hiện lên với khí thế mạnh mẽ, dồn dập. Các từ láy giàu sức gợi đã diễn tả sinh động sức mạnh của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến.
Bài thơ còn khắc họa vai trò của Việt Bắc như một trung tâm cách mạng, nơi hội tụ niềm tin và sức mạnh chiến thắng. Điều đó tạo nên âm hưởng sử thi hào hùng cho tác phẩm.
Mẫu 6: Cảm nhận kết hợp nội dung và nghệ thuật
Việt Bắc là sự kết hợp hài hòa giữa nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện.
Về nội dung, bài thơ ca ngợi tình nghĩa cách mạng sâu nặng, tái hiện một chặng đường lịch sử đáng nhớ của dân tộc.
Về nghệ thuật, tác giả sử dụng thể thơ lục bát truyền thống, kết hợp với lối đối đáp “mình – ta” giàu tính dân gian. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh và giàu nhạc điệu.
Chính sự kết hợp ấy đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòng bạn đọc.
.png)
Mẫu 7: Cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đầy đủ, chi tiết nhất
“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”.
(Tố Hữu)
Tố Hữu là một nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam thế kỉ XX và là cánh chim đầu đàn của thơ ca Cách mạng. Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu luôn song hành với sự nghiệp Cách mạng của dân tộc từ gian khó hy sinh cho đến thắng lợi cuối cùng. Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta thành công vào tháng 10/1945, thay mặt cho toàn dân tộc, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc nhằm ôn lại một chặng đường lịch sử hào hùng và oanh liệt mà nhiều thế hệ Việt Nam đã đổ máu xương dựng nên trang sử vàng chói lọi. Bài thơ Việt Bắc được coi là đỉnh cao thơ ca Tố Hữu và cũng là một trong những vần thơ hay nhất của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Việt Bắc được viết vào hoàn cảnh sau khi cách mạng ở miền Bắc đạt được thắng lợi to lớn đó là trận Điện Biên Phủ năm 1954. Sau thắng lợi Điện Biên Phủ thì những người kháng chiến rời căn cứ địa ở Việt Bắc để trở về miền xuôi để tiếp tục lãnh đạo công cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc. Tố Hữu viết bài thơ này như là lời tri ân gửi đến những người dân miền rừng núi. Đồng thời cũng là lời nhắc nhớ về những tháng ngày gian khổ với biết bao kỷ niệm ở nơi đây. Qua đó ta thấy được tình cảm sâu nặng của bộ đội cụ hồ với nhân dân, với Việt Bắc và với Đảng. Xuyên qua bài thơ với ba nội dung thứ nhất là lòng dân thắm thiết, thứ hai là tinh thần kháng chiến kiên cường, gian khổ và cuối cùng vẫn là cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.
Mở đầu bài thơ là sự tri ân đầy cảm động của người cộng sản với quê hương Việt Bắc. Sự kiện lịch sử trọng đại này đã được nhà thơ chuyển thể thành khúc ca giao duyên "ta – mình" nồng nàn tha thiết. Hai mươi tư câu thơ đầu hướng về đề tài cách mạng quen thuộc trong văn chương đã ghi lại tình cảm ấm áp nghĩa tình của cơ quan trung ương Đảng và chính phủ với chiến khu Việt Bắc, một cuộc tiễn đưa đầy xúc động, nồng nàn yêu thương. Đây là bài thơ khá tiêu biểu về cảm hứng trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu, đó là cảm xúc mạnh mẽ đối với các vấn đề trọng đại của đất nước, được thể hiện qua hình ảnh lãng mạn đầy tình cảm. Mở đầu cho bài hát này là tiếng lòng, là tình cảm của Việt Bắc – những người ở lại làm cho người kháng chiến về xuôi:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?
Hai câu thơ lục đã thể hiện rõ nét chất riêng của phong cách thơ Tố Hữu: thi tứ ảnh hưởng của ca dao dân gian với nghệ thuật hát "mình ơi mình có nhớ" và hai đại từ nhân xưng "ta" – "mình" quen thuộc. Việc sử dụng từ ngữ của câu thơ đã làm nổi bật sắc thái ngọt ngào, thắm thiết của hai nhân vật trữ tình. Hai tiếng "ta" – "mình" không được sử dụng ở ngôi một số ít vừa mà dùng ở ngôi rất lớn ám chỉ đồng bào Việt Bắc và những người tham gia kháng chiến nhưng đã hiện diện xuyên suốt bài thơ, tượng trưng cho sự gắn bó máu thịt của bao người trong suốt những năm tháng gian khổ, kề vai sát cánh cùng nhau chống giặc, giữ gìn quê hương đất nước đằng đẵng "mười lăm năm" "Mười lăm năm ấy" không chỉ là khoảng thời gian miền Bắc là chiếc nôi nuôi dưỡng, đùm bọc cán bộ, giúp đỡ cách mạng, cũng là khoảng thời gian cả ta với mình đã cùng nhau vượt qua biết bao khó khăn, vất vả từ ngày đầu kháng chiến. Đó không chỉ là quãng thời gian lịch sử hào hùng và vinh quang của dân tộc – đoạn đường của những bước chân trên than bụi lầy bùn đã "đạp quân thù xuống đất đen", để chạm vào lá cờ Cách mạng, được làm chủ quê hương đất nước. Đại từ ngày "ấy" dường như đã đẩy khoảng thời gian "mười lăm năm ấy" về một quá khứ xa xôi, xa xăm hơn, khiến thời gian càng thấm đẫm sự nhớ thương, tiếc nuối. Người ở lại muốn nhắn nhủ người mất đi đừng lãng quên dĩ vãng, hãy là "ta" của mười lăm năm ấy, mười lăm năm ta với mình chia ngọt sẻ bùi, mười lăm năm chứa đựng biết bao tình cảm yêu thương, thuỷ chung, son sắt. Câu hỏi thứ hai của người ở lại hướng đến những hình tượng cụ thể với ý nghĩa sâu sắc: "Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn". Nhịp thơ 4/4 với biện pháp nghệ thuật "tiểu đối" đã tạo nên sự đa xen trong các hình tượng ngôn từ, qua đó khẳng định sự gắn bó không thể tách rời giữa miền xuôi và vùng cao, giữa người đi người ở, giữa Việt Bắc và kháng chiến ở phương diện văn học. Hình ảnh "cây", "sông" là tượng trưng cho Việt Bắc. Câu thơ là cách dùng hình ảnh biểu trưng cho nỗi nhớ, sự trăn trở khôn nguôi của người ở lại, những người ra đi khi về với thị thành phồn hoa có còn nhớ Việt Bắc – chiến khu của Cách mạng, đầu não của kháng chiến. Nơi ấy có những tấm lòng son sắc, nơi đã "che bộ đội", "vây quân thù", nơi bao đau thương mất mát cả dân tộc đã hướng tới để nhìn "cụ Hồ sáng soi" mà "nuôi chí bền". Bốn câu thơ nhiều thanh bằng đã tạo nên giai điệu thật tha thiết, sâu lắng, khơi gợi bao kỷ niệm tốt đẹp và làm sống dậy một thời Cách mạng của một vùng Cách mạng. Đáp lại tấm lòng của Việt Bắc là là tình cảm của người dưới xuôi ở bốn câu thơ tiếp theo tạo thành bố cục rất hài hoà và đồng điệu. Tình cảm mà Việt Bắc dành cho kháng chiến sâu nặng bao nhiêu thì tình cảm mà dân tộc dành cho Việt Bắc cũng nghĩa tình thắm thiết bấy nhiêu. Trong giờ phút chia ly, chúng ta đã đem tấm lòng đáp lại tấm lòng, lấy nhớ thương đáp lại nhớ thương:
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
"Tiếng ai" chín là tiếng lòng của đồng bào Việt Bắc. Cách dùng từ "ai" làm câu thơ có sắc thái riêng, đồng thời cũng trở nên quyến rũ, mê hoặc hơn nữa. "Tiếng ai" ấy không hữu hình mà ẩn chứa trong tiềm thức, trong nỗi đau, là thứ âm thanh mơ hồ mà ám ảnh kỳ lạ, có sức mạnh cao len lỏi vào lòng người ra đi, làm bước chân họ "bồn chồn" nửa đi nửa ở. Và phải có một tấm lòng mới có thể hiểu hết tiếng lòng của người đi, phải có trái tim nhớ thương tha thiết thì mới nghe thấy tiếng lòng người ở lại nhớ thương da diết. Nếu tình cảm Việt Bắc dành cho Cách mạng là "thiết tha" thì tình cảm Hồ Chí Minh dành cho Việt Bắc cũng rất "tha thiết". Nghệ thuật chơi chữ được vận dụng khéo léo làm cho tình cảm đang thiết tha lại càng thắm đượm và sâu sắc hơn. Giữa người đi kẻ ở dường như tồn tại sự hô ứng đồng điệu, một sự thấu hiểu sâu sắc. Họ hiểu nhau sâu sắc, họ hiểu nhau đến tương dạ, rồi tương lòng. Những từ láy "bâng khuâng", "bồn chồn" được dùng thật nhiều cảm xúc, để diễn tả tinh tế tâm trạng người đi khi phải chia tay mảnh đất, con người mình đã từng gắn bó thân thiết. Riêng từ láy "bồn chồn" vừa diễn tả tâm trạng vừa miêu tả hành động, làm cho cảm xúc như hiện diện ngay ở dáng vẻ bên ngoài với những bước chân nhấp nhổm không yên, nửa đi nửa ở. Hình ảnh chiếc "áo chàm" là hình ảnh phản ánh chân thực đồng bào Việt Bắc. Họ giản dị, nghèo khổ mà sâu đậm nghĩa tình. Cái áo chàm cũng là biểu trưng cho tình cảm đoàn kết, cho lòng chung thuỷ, cho tinh thần tương thân tương ái, trong cộng đồng dân tộc. Đó là vẻ đẹp đơn sơ, giản dị của Việt Bắc, là tấm lòng son thắm chung thuỷ của Việt Bắc. Cả núi rừng như đọng lại trong hình ảnh áo chàm bình dị ấy. Và trong tim người ra đi, màu áo chàm mộc mạc bình dị cứ mãi ám ảnh, luôn gợi nhớ về một tây bắc nghĩa tình thuỷ chung. Nhịp thơ 3/3/2 diễn tả sự bâng khuâng tiếc nuối, run rẩy của trái tim, của cảm xúc. Hình tượng "cầm tay" là biểu tượng của tình cảm đã thay lời cho bao nỗi lòng tâm tư nhưng lúc này tất cả lời nói đều trở nên vô ích. Đó là lời tạm biệt, là tình cảm muốn gửi gắm và cũng là lời động viên an ủi. Đó cũng là cái chững lại, cái bồi hồi nghẹn ngào khi xúc cảm trào dâng, là sự muốn thấu hiểu lẫn nhau của những người đã từng gắn bó. Với lối diễn đạt mộc mạc, giản dị mà chân thành, da diết, đoạn thơ cho thấy bao nét đẹp đẽ của con người Việt Nam trong kháng chiến với những tình cảm sâu nặng, ân tình. Khi chia tay với người lính về xuôi, đồng bào Việt Bắc như muốn lưu giữ những kỷ niệm tốt đẹp của con đường lịch sử mà dân tộc đã trải qua. Mười hai câu thơ với sáu câu hỏi dồn dập như lửa lòng dâng trào mạnh mẽ, như suối nguồn yêu thương đang ào ạt trở về. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa điệp ngữ ở những câu sáu "mình về mình có nhớ", "mình về có nhớ", sự đan xen của các từ trong câu tám với nhịp 4/4 tạo nên nhịp điệu ngân nga, sâu lắng, trữ tình cho đoạn thơ. Nhịp điệu trữ tình ấy đã góp phần thể hiện tinh tế sự nhớ thương da diết chất chứa trong lòng con người để từ đó, quá khứ đầy ắp kỷ niệm lại ùa về:
Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
Trong lời nhắc nhở tha thiết của người ở lại với người ra đi, Việt Bắc hiện lên rất sinh động từ cái khắc nghiệt của thiên nhiên với "mưa nguồn suối lũ" tới cuộc sống kháng chiến gian khổ, thiếu thốn với "miếng cơm chấm muối", từ những trang sử oai hùng "kháng Nhật" tới các sự kiện quan trọng của Cách mạng và kháng chiến nơi Tân Trào, Hồng Thái. Những câu hỏi của người ở lại đã làm rõ cội nguồn tạo nên sự gắn bó máu thịt giữa địch và ta, giữa Việt Bắc với kháng chiến. Họ đã cùng nhau sẻ chia từ sự khó khăn vất vả đến những tâm tư nỗi lòng, họ đã chia đôi "miếng cơm chấm muối" để kề vai sát cánh suốt những tháng năm gian khổ nhất từ thời Mặt trận Việt Minh tới chín năm kháng chiến chống Pháp. Sự sẻ chia trong quá khứ tạo ra sự gắn bó của hiện tại và cả trong tương lai. Gian truân, vất vả đã làm toả sáng nét đẹp của người dân Việt Bắc tuy nghèo khổ mà anh dũng, kiên cường, chung thuỷ với Cách mạng và kháng chiến. Những gắn bó của mười lăm năm ấy đã làm tăng lên sự nhớ thương và nỗi trống trải nơi núi rừng khi chia ly: "Mình về rừng núi nhớ ai/Trám bùi để rụng măng mai để già". Câu thơ "Mình về rừng núi nhớ ai" cũng mang hình thức của câu hỏi nhưng không phải để hỏi người đi mà là nhằm bày tỏ nỗi niềm người ở lại. "Rừng núi" là hình ảnh đại diện cho người dân Việt Bắc, hỏi "ai" là người ra đi. Nỗi nhớ nhung và sự mặc cảm cũng được thể hiện rõ ràng thông qua lối nói né tránh cùng cấu trúc câu khiến ý thơ càng trở nên da diết, đầy ngậm ngùi day dứt. Tính chất ẩn dụ khiến hình ảnh người mất đi càng trở nên xa xăm thêm qua đôi mắt nhớ nhung của người dân Việt Bắc mộc mạc và chân tình. Câu thơ 8 gồm hai vế đối xứng đề cập đến hai hình ảnh "trám bùi "," măng mai "– đặc sản thân quen giản dị của núi rừng Việt Bắc, chỉ rõ miền rừng núi này đã trở thành quê hương thứ hai của người lính. Phép điệp cấu trúc "để rụng", "để già" gợi nên hình ảnh cuộc sống như đình trệ, núi rừng như hoang tàn sau lưng người đi, để lại nỗi xót xa trống trải trong lòng người ở lại. Sự gắn bó khiến ta – mình càng yêu nhau, càng quý trọng nhau hơn, thể hiện trong những hình ảnh thơ chất chứa lòng thương nỗi nhớ khôn nguôi của Việt Bắc dành cho Đảng, cho Bác Hồ: "Mình đi có nhớ những nhà/Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son". Câu thơ là lời nhắc nhở cảm động với người ra đi: đừng bao giờ quên những con người nghèo khổ mà son sắt kiên trung – những con người đã một lòng thủy chung với cách mạng và kháng chiến. Hình ảnh “hắt hiu lau xám” vừa gợi tả không gian hoang vắng, tiêu sơ, buồn bã của núi rừng vừa mang ý nghĩa ẩn dụ chỉ cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây. “Đậm đà lòng son” vì thế cũng là hình ảnh ẩn dụ ngợi ca tấm lòng trung hậu, nghĩa tình của người dân Việt Bắc. Và có lẽ chính màu lau xám hắt hiu của núi rừng càng làm đậm thêm sắt son nghĩa tình Việt Bắc: "Mình đi, mình có nhớ mình/Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa". Một lần nữa, nhà thơ khẳng định lại tấm lòng gắn bó thuỷ chung của Việt Bắc với Cách mạng và kháng chiến. Từ "mình" ở cuối câu sáu tạo nên nhiều cách hiểu. Có thể "mình" là "ta" – người ở lại, thì câu thơ là sự xuyến xao, day dứt trăn trở trong suốt bài thơ, liệu người chiến sĩ khi trở về thành phố, trở về quê hương, trở về nơi "ánh điện cửa gương" có còn nhớ đến Việt Bắc nghĩa tình không, có nghĩ đến những con người "sương lau xám đậm đà lòng son" nữa không? Cách hiểu như thế cho thấy sự gần gũi gắn bó rất bền chặt của người với đất, dù hai mà một không thể nào tách rời. Lại cũng có thể hiểu "mình" là người ra đi – câu thơ trở thành sự liên tưởng nhẹ nhàng, sâu lắng, tha thiết: mình đi, mình sẽ vẫn là con người của ngày xưa ấy, con người anh dũng, tình nghĩa, thuỷ chung nhân hậu đã cùng Việt Bắc sát cánh kề vai, trong mười lăm năm ấy không? Đó là sự nhắc nhở không đánh mất con người mình nơi cuộc sống phồn hoa, chớ quên miếng vá giữa rừng khi đã quen với ánh đèn phố thị và đừng quên những ngày tháng năm khói lửa, hào hùng khi trở về cuộc sống đời thường. Nhà thơ đã nhắc đến sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ở câu tám. Câu thơ đã được nhà thơ thể hiện nhiều tầng nghĩa sâu sắc khi "Mái đình Hồng Thái", "Cây đa Tân Trào" được tách làm hai vế với những tập hợp ngôn từ mới mẻ. Vế thứ nhất là hai danh từ riêng "Tân Trào", "Hồng Thái", các địa danh gắn liền với những sự kiện lịch sử lớn của dân tộc và kháng chiến: đình Hồng Thái là nơi tổ chức Quốc dân Đại hội tháng 8 năm 1945, ra mắt Uỷ ban dân tộc giải phóng quân và phát lệnh Tổng khởi nghĩa; gốc đa Tân Trào là nơi đội Việt Nam Giải phóng quân đã làm lễ xuất phát chuẩn bị cho cách mạng. Vế sau là hai danh từ chung trong đó "mái đình", "cây đa" đều là những hình ảnh gần gũi, thân thuộc của làng quê Việt, nơi gặp gỡ, nơi hò hẹn. Phép ẩn dụ trong câu thơ đã thể hiện tình cảm vô cùng sâu đậm của người dân Việt Bắc với Cách mạng và kháng chiến. Những tên đất, tên làng Việt Bắc đã trở thành những địa danh, những cột mốc lịch sử mà các thế hệ Việt Nam khi nhớ lại đều cảm động và tự hào. Việt Bắc đã trở thành căn cứ địa Cách mạng và người dân Việt Bắc cũng một lòng hướng về Cách mạng. Như một khúc hát biệt ly, đoạn thơ tái hiện lại cuộc chia tay lịch sử khép lại trong tiếng lòng của người ra đi dành cho Việt Bắc nặng nghĩa nặng tình:
Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu.
Câu thơ đầu gần hai tiểu đối cùng phép lặp xen kẽ giữa "ta" – "mình" và từ "với" trở thành chất keo kết dính ta với mình, mình với ta. Kết đoạn ngôn ngữ độc đáo ấy gợi nên tình cảm gắn bó, yêu thương của người đi kẻ ở. Ta với người bao giờ cũng khăng khít gắn bó từ thuở đầu tiên cho đến khi chiến thắng chia ly. Câu thơ như lời khẳng định của người đi kẻ ở rằng tấm lòng của ta dành cho Việt Bắc cũng chính là tấm lòng của mình dành cho ta, chúng ta dù hai mà một, dẫu có xa mặt cũng không cách lòng. Câu thơ cuối cùng như một lời minh chứng đanh thép của người ra đi bởi tấm lòng dành cho Việt Bắc. Ý thơ là lời minh chứng hùng hồn và thuyết phục cho chân lý đó. Từ "sau trước" gợi lại một khoảng thời gian dài từ trước đến sau, từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai. Dân gian ta có câu "thức lâu mới biết đêm dài", thời gian khiến con người càng thấu hiểu lòng mình. Khi đã có những năm tháng gắn bó trong cuộc sống, khi đã cùng nhau chung vai gánh vác những lo toan, khi đã biết sẻ chia tâm sự thì tình cảm của họ sẽ thêm "mặn mà", "đằm thắm". Từ láy "mặn mà", "đinh ninh" chính là lời thề của người mất đi rằng tình cảm giữa họ và Việt Bắc sẽ luôn vững bền theo thời gian, không bao giờ nhạt phai, đổi thay:
Mình đi mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu.
Nếu người ở lại băn khoăn, day dứt "mình đi mình có nhớ mình" thì người ra đi cũng chìm đắm trong sự hô ứng ấy "mình đi mình lại nhớ mình". Vẫn là sự vận dụng tinh tế chữ "mình" ở cuối câu thơ với những nét ý nghĩa. Nếu hiểu "mình" là người ở lại, câu thơ là sự nhớ nhung da diết của người đi hướng đến những người họ đã từng yêu thương, nếu hiểu "mình" là người đi thì câu thơ như một lời nhắc nhở: ánh đèn thành phố sẽ không bao giờ có thể khiến người ra về quên đi "vầng trăng tình nghĩa", cuộc sống hoà bình không thể làm cho người lính năm ấy quên đi ký ức tốt đẹp nghĩa tình, cũng không đánh mất bản thân mình để phụ lòng Việt Bắc. Câu thơ "Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu" như một lời đáp lại sự trăn trở của Việt Bắc "Mình về mình có nhớ không/Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn". Câu thơ phảng phất phong vị ca dao "đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu". Hình ảnh so sánh "nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu" nhấn mạnh tính chất và mức độ của nỗi nhớ – một khái niệm trừu tượng – được cụ thể hoá, được đo lường, hiển hiện như nước trong nguồn, mênh mông, lặng lẽ và cô đặc. Hơn nữa, hình ảnh nước trong nguồn cũng gợi những suy nghĩ về quê hương, về đạo lí thủy chung ngàn đời của người dân Việt. Thời gian vẫn không ngừng cuốn theo để mỗi thế hệ Việt Nam sẽ không bao giờ quên đi con đường lịch sử hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như mãi ghi nhớ công ơn của ông cha, của Việt Bắc đã cùng nhau làm nên trang sử vàng rực rỡ vinh quang. Mười tám câu thơ cuối cùng là lời tiếp nối bài ca chia tay đầy quyến luyến tình cảm của người và đất. Đây cũng là bài thơ tượng trưng cho nỗi nhớ Việt Bắc thiết tha mặn nồng của người về xuôi khi cuộc kháng chiến chấm dứt. Qua bài thơ, khung cảnh núi rừng Việt Bắc cũng như tấm chân tình của người dân nơi đây được thể hiện rất sinh động. Sáu câu thơ đầu là nỗi nhớ về khung cảnh núi rừng Việt Bắc. Cả ba cặp lục bát đều bắt đầu với một chữ "nhớ" rất da diết. Sắc thái và mức độ của nỗi nhớ được thể hiện bằng hình ảnh so sánh ngọt ngào hơn:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Với sự so sánh cùng điệp từ "nhớ", nghĩa tình Cách mạng, nghĩa tình đồng bào đã được nhà thơ diễn đạt theo ngôn ngữ lãng mạn như tình yêu lứa đôi. Có thể coi đây là một so sánh mang sắc thái đặc trưng nhất và mức độ cao nhất cho nỗi nhớ của nhà thơ. Qua so sánh đó, nhà thơ khẳng định tình cảm nhân dân giành cho Việt Bắc, cho quê hương Cách mạng là nồng nàn, sâu sắc, mãnh liệt và tha thiết. Chỉ một câu thơ sáu tiếng mà có đến ba tiếng trực tiếp biểu đạt tình cảm "nhớ", kết lại bằng từ "yêu" đã cho thấy núi rừng Việt Bắc đã in dấu, hằn sâu trong tâm khảm của mỗi người ra đi. Câu thơ của Tố Hữu đã làm cho tình cảm dân tộc trở nên quá đỗi thiêng liêng. Có lẽ, sự liên tưởng sâu sắc về tình yêu đã khiến những hình ảnh của thiên nhiên Việt Bắc cũng đậm đà hương vị tình yêu. Từng cảnh vật của Việt Bắc trong mọi thời điểm và không gian đan xen, dồn dập hiện ra trong nỗi nhớ người đi. Việt Bắc khi thơ mộng với ánh trăng sao lung linh nơi đỉnh đồi, khi ấm áp nhạt nhòa trong "nắng chiều lưng nương", lúc thì như hồ huyền ảo giữa lòng "bản khói cùng sương" và đặc biệt là da diết nghĩa tình bởi nó gắn bó với hình ảnh con người khi "sớm khuya bếp lửa người thương đi về". Đó là ngọn lửa của tình yêu thương, của sự che chở bao bọc, của chia sẻ, của tình cảm gắn kết. Việt Bắc hoang sơ mà không hề khô cứng. Trong nỗi nhớ niềm thương, Việt Bắc đẹp ở mọi khoảnh khắc và mọi góc chụp. Nếu ở đây, người Việt Bắc mới chỉ hiện lên khi so sánh với nỗi "nhớ người thương" thì tới câu thơ này, họ đã thực sự trở thành "người thương trong lòng người lính". Những cảnh vật ở Việt Bắc dù có tên gọi "ngòi Thia", "sông Đáy", "suối Lê " hay không tên thì" bờ tre ","rừng nứa "vẫn in sâu trong nỗi nhớ người ra đi:
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Việt Bắc là vùng đất của tre nứa, của suối nguồn. Bao đời nay rừng nứa bờ tre đã gắn bó với người dân nơi đây. Trong kháng chiến, chính cánh rừng ấy đã "che bộ đội", "vây quân thù", là hậu phương lớn của Cách mạng. Cụm từ "nhớ từng" trở đi trở lại diễn tả nỗi nhớ da diết sâu nặng của người ra đi không chỉ với những địa danh thân quen cụ thể mà còn là nỗi nhớ bao trùm, trọn vẹn với tất cả những gì thuộc về Việt Bắc. Đó là nỗi nhớ không thể nào nguôi ngoai, khô cạn như nước suối nguồn có lúc vơi lúc đầy. Trong nỗi nhớ ấy, Việt Bắc trở thành một không gian của ân tình, nơi nào người nào cũng có chút kỷ niệm của kháng chiến, quả là "khi ta đi đất đã hoá tâm hồn". Chia tay với Việt Bắc, người về xuôi vẫn nhớ đến tấm lòng của nhân dân nơi đây dành cho Cách mạng và cho kháng chiến. Và cũng để trả lời câu hỏi tha thiết của người dân Việt Bắc "Mình đi có nhớ từng ngày", người ra đi đã khẳng định "Ta đi ta nhớ những ngày" với lời lý giải sâu sắc, chân thành cho nỗi nhớ: "Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi ". Họ đã ở bên nhau xuyên suốt "mười lăm năm ấy", từ "thời kháng Nhật, khi còn Việt Minh" đến những ngày kháng chiến chống Pháp. Họ đã từng sẻ chia bao đắng cay, ngọt bùi từ "mưa nguồn suối lũ" cho đến "bát cơm chấm muối, nỗi đau trĩu vai", cùng nhau viết lên trang sử hào hùng oanh liệt nơi Tân Trào, Hồng Thái. Những ngày tháng gian khổ có nhau ấy đã làm nên nghĩa tình Cách mạng hôm nay. Và đó cũng là lý do cho nỗi nhớ da diết của người ra đi với người ở lại. Mở đầu cả đoạn thơ của nỗi nhớ là một chữ "thương" quặn lòng, để rồi quá khứ trở về với cả đắng cay và nghĩa tình:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.
"Sắn lùi", "bát cơm sẻ nửa", "chăn sui" là các hình ảnh sống động và chân thật đã cho thấy sự khó khăn và thiếu thốn như thế nào. Người quân không chỉ phải đối mặt với kẻ thù mà còn phải đương đầu với cả cái đói, cái lạnh, họ đã cùng đồng bào Việt Bắc vượt lên khó khăn và gian khổ không chỉ bằng sức mạnh của lòng quả cảm mà còn là sức mạnh của tình thương yêu. Các động từ "chia", "sẻ", "đắp cùng" đã thể hiện tình nghĩa sâu nặng của người dân Việt Bắc và bộ đội, công an. Họ đã chia sẻ với nhau từng bữa cơm ngày rét đến hơi ấm giữa mùa đông "lạnh giá". Gian khổ hy sinh, Việt Bắc cùng dân tộc vượt lên, khó khăn chồng chất, Việt Bắc cùng dân tộc san sẻ. Suốt mười lăm năm qua, đồng bào Việt Bắc đã cùng dân tộc kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi với Cách mạng, với kháng chiến. Tình thương yêu đã đe đến sức mạnh cho người lính chiến đấu và chiến thắng. Nói đến tấm lòng Việt Bắc, nhà thơ cũng đồng thời làm sống dậy những năm tháng vất vả, khó khăn đó mà cả dân tộc đã cùng vượt lên trên tất cả để luôn vững niềm tin vào ngày mai tươi sáng. Cuộc sống vất vả, khó khăn, lam lũ, nhọc nhằn của người dân Việt Bắc trong các hoạt động âm thầm hàng ngày để phục vụ Cách mạng và chiến đấu đã trở thành nỗi nhớ sâu trong lòng người đọc, được nhà thơ gợi lại bằng một hình ảnh rất đỗi bình dị đời thường:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.
Hình ảnh người mẹ "địu con lên rẫy" vừa thể hiện được vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ dân tộc thiểu số miền núi phía bắc lại thể hiện được nét đẹp đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến – những người phụ nữ vừa lam lũ, tần tảo, khéo léo vừa có lòng nhân ái và đức hy sinh, giỏi việc nước, đảm việc nhà. Hai thanh sắc liên tiếp trong cụm từ "cháy nắng" mang ý nghĩa ẩn dụ không chỉ gợi nên hình ảnh vạt nương ngập nắng với những ánh nắng gay gắt chói chang mà còn làm nhói lên lòng thương xót. Câu thơ cuối có tới ba động từ "địu", "lên", "bẻ" thể hiện sự nhọc nhằn, lam lũ của người mẹ Việt Bắc nhưng đổi lại chỉ là hình ảnh "từng bắp ngô" quá đỗi nhỏ bé, khiêm nhường. Không gian làm việc khắc nghiệt cùng sự đối lập giữa trách nhiệm và thành quả cho thấy những nhọc nhằn của con người trong cuộc sống lao động phục vụ kháng chiến, làm tăng lên cả nỗi đau lẫn niềm tự hào trong lòng người đi. Gánh nặng hai vai vẫn cứ thế thầm lặng nhưng hình ảnh thơ ca đã cho ta thấy một Việt Bắc mộc mạc bình dị mà lớn lao vô cùng. Hình ảnh thơ là những đúc kết cho Việt Bắc lam lũ, giản dị mà đậm nghĩa ân tình. Sâu xa hơn nữa, đó chính là hình ảnh của con người và đất nước tươi đẹp, thân thiện. Trong thơ Tố Hữu, Việt Bắc xa xôi bỗng trở nên gần gũi và thân thương hơn. Người ra đi không chỉ nhớ những hình ảnh của cuộc sống nghèo khó hay gian truân vất vả, tâm trí họ vẫn ghi lại những ký ức gần gũi, thân thương và cả nếp sinh hoạt đơn sơ, giản dị của cuộc sống núi rừng thời kháng chiến:
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Câu hỏi tu từ tiếp theo "nhớ sao" trở đi trở lại đầy xúc động vừa bồi hồi vừa khắc sâu bao kỷ niệm trong cuộc đời của người kháng chiến. Nỗi nhớ hướng về những "lớp học i tờ" – hình ảnh đẹp của phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ ngày đầu giải phóng, gợi lại bao tiếng đánh vần ngô nghê, những nét bút nguệch ngoạc, sự say mê háo hức của đồng bào khi được học con chữ Cách mạng trong các lớp học tranh thủ giữa giờ lao động và kháng chiến. Nỗi nhớ hướng về những buổi họp mặt ấm cúng giữa người dân Việt Bắc với nhau, từ âm thanh của tiếng "ca vang núi đèo" đến sự rộn ràng, vui tươi của "đồng khuya đuốc sáng". Giữa những năm tháng muôn vàn gian khó, mỗi lời ca tiếng hát vang lên từ núi rừng là nguồn động viên tinh thần tiếp thêm sức mạnh để toàn quân hướng tới ngày chiến thắng. Núi rừng Việt Bắc mênh mông đã bừng lên một luồng sinh khí mới: Tạm biệt với Việt Bắc, người ta sẽ mãi nhớ nhịp sống yên ả của núi rừng bao đời nay vẫn diễn ra như vậy. Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ Việt Bắc đã khép lại trong dư âm của nhiều thanh âm quen thuộc:
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa.
Cảnh tượng bình yên, thân thuộc của cuộc sống nơi núi rừng còn hiện ra trong những âm thanh gợi cảm của “tiếng mõ rừng chiều”, tiếng “chày đêm nện cối” và cả tiếng suối xa vời vợi,… những âm thanh vừa gợi cảm giác êm đềm yên ả vừa phảng phất chút hoang vắng tiêu sơ, cho thấy tình cảm thắm thiết, nỗi nhớ da diết đậm sâu của người ra đi với cuộc sống và con người chiến khu Việt Bắc. Trong nỗi nhớ niềm thương xao xuyến bùi ngùi ấy, Việt Bắc hiện lên là sự tiếp nối của hôm qua và hôm nay, của truyền thống và hiện đại – một Việt Bắc bình dị và cũng thật lớn lao cao cả. Tiếp nối mạch buồn nhớ thương Việt Bắc của những người chiến sĩ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình về cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc. Đây đồng thời là đoạn thơ đặc sắc nhất thể hiện sinh động và thấm thía nỗi nhớ tha thiết của người ra đi với cảnh, với người Việt Bắc. Đoạn thơ mở ra là những lời hỏi đáp ngọt ngào tha thiết của “ta” với “mình”, của người chiến sĩ và đồng bào Việt Bắc khi cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc kết thúc:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Đây là câu hỏi đến từ phía người đi, một câu hỏi chân thành và thấm đẫm hương vị của yêu thương. Câu hỏi đó của người đi không bao giờ chờ lời giải đáp, không có những suy tư, trăn trở và hỏi là để bày tỏ nỗi bồi hồi xao xuyến phút chia tay. Và chính vì vậy mà ngay sau câu hỏi đã là lời đáp: "ta chia tay, ta nhớ mùa hoa bên người". Hai câu thơ đầy ắp "ta" và "mình", hay "mình nhớ", "ta nhớ". Yếu tố điệp của ngôn từ khiến lời thơ thêm mượt mà, sâu lắng và gợi nên nỗi quyến luyến, nhớ thương da diết trong lòng người nghe. Nỗi nhớ của người đi hướng tới "hoa cùng người". "Hoa" có thể là "hoa chuối đỏ tươi" hoặc hoa đào nở trắng trời, nhưng đặc biệt hơn nữa, "hoa" ấy chính là hình ảnh ẩn dụ về thiên nhiên, con người, cảnh sắc núi rừng quê hương Việt Bắc. Trong nỗi nhớ của người đi thì cảnh sắc thiên nhiên và con người Việt Bắc được đồng hiện hài hoà. Nỗi nhớ này chưa vơi đi thì nỗi nhớ ấy đã tràn ngập cả tâm hồn – một nỗi ám ảnh bao quanh cả không gian và thời gian. Tấm lòng tri ân với Việt Bắc còn sâu nặng vô cùng. Sau lời hỏi đáp tha thiết là bức ảnh sống động về bốn mùa Việt Bắc với nhiều nét đẹp đặc sắc và nổi bật nhất. Có thể coi tám câu thơ trên là bức ảnh đẹp của núi rừng Việt Bắc. Mở đầu là bức tranh Việt Bắc giữa mùa đông với những phác hoạ tài tình, tinh tế cả về hình khối, màu sắc, ánh sáng:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Mùa đông vốn gắn liền với cái lạnh, tiết trời ảm đạm u ám nhưng trong nỗi nhớ người đi, mùa động Việt Bắc vẫn rất trong sáng, xanh tươi, ấm áp vô cùng bởi sự phối màu độc đáo “rừng xanh” – “hoa chuối đỏ tươi” – những gam màu rực rỡ vừa tương phản vừa tôn nhau. Trên nền trời xanh thẳm, hùng vĩ của núi rừng đại ngàn là sắc đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ tươi của hoa chuối nổi bật trên nền xanh bao la, bát ngát của núi rừng vừa tạo cảm giác ấm áp, chói chang vừa cồn cào như những ánh mắt dõi theo đầy lưu luyến theo bước chân người đi. Sự phối hợp khéo léo giữa ánh sáng và màu sắc khiến bức tranh thiên nhiên mùa đông càng trở nên rực rỡ: màu xanh thẳm của núi rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu vàng ấm áp của ánh nắng, đặc biệt là ánh phản quang của nắng trên nước thép sáng loáng của con dao người đi rừng. Sự xuất hiện của con người được miêu tả gián tiếp qua hình ảnh “dao gài thắt lưng” càng làm tăng thêm vẻ đẹp ấm áp, thơ mộng cho mùa đông Việt Bắc. Đặt hình ảnh “dao gài thắt lưng” sau cụm từ “nắng ánh” ở trạng thái động, nhà thơ khiến câu thơ như một góc bất ngờ của nghệ thuật nhiếp ảnh kỳ thú, tạo hình con người trong tư thế làm chủ, tỏa sáng từ trên cao. Họ trở thành trung tâm của bức tranh thơ và có sức tỏa chiếu xung quanh, tầm vóc con người lớn lao, mạnh mẽ hơn giữa núi rừng hùng vĩ. Đông qua xuân đến, núi rừng Việt Bắc lại khoác lên mình vẻ đẹp thật trẻ trung, khoáng đạt:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Với lối diễn đạt này, câu thơ gợi nên một cảm nhận rất thú vị: mùa xuân đến, núi rừng Việt Bắc lại bừng tỉnh, vạn vật sinh sôi, muôn hoa đua nở. Thiên nhiên mùa xuân Việt Bắc được miêu tả bằng các gam màu dịu mát, trẻ trung. Phép đảo ngữ "trắng rừng" đem đến ấn tượng với hình ảnh cánh rừng trắng xóa hoa mơ, kết hợp động từ "nở", thiên nhiên như tràn đầy sức sống, sức xuân như bùng nổ trên những bông hoa đang nở, trên từng vạt hoa trắng muốt khắp núi rừng. Nghệ thuật tạo hình tinh tế của nhà thơ mang lại một mùa xuân Việt Bắc trong trẻo nhẹ nhàng nhưng không thiếu phần quyến rũ, lãng mạn. Trên nền của bức tranh xuân đó, con người xuất hiện với nét vẽ tinh tế, tài hoa. Động từ "chuốt" cộng với tính từ "từng" đã miêu tả chi tiết, tỉ mỉ các thao tác thuần thục, cẩn thận, tinh tế của người làm nghề thủ công mỹ nghệ. Câu thơ miêu tả mùa xuân Việt Bắc chứa đựng lòng biết ơn vô hạn đối với quê hương, đất nước. Mùa hè sôi động đã khoác lên núi rừng Việt Bắc bao màu sắc sặc sỡ cùng những âm thanh rộn ràng. Việt Bắc đã trở thành bức hoạ rực rỡ:
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Khúc biến tấu giao mùa của thiên nhiên đã được nhà thơ diễn đạt tài tình bằng chữ "đổ". Thiên nhiên đất trời luôn có sự giao hoà chuyển đổi màu sắc. Tiếng ve vừa ngân, cả rừng phách xanh mướt bỗng chuyển màu vàng dưới ánh nắng hạ chói chang rực rỡ. Âm thanh và màu sắc như giao hoà đồng điệu. Dường như chính sự thúc giục của của bầy ve đã gợi lên cái đẹp của thiên nhiên, làm ta có cảm giác như có một dòng thác vàng chảy tràn từ trên núi cao xuống rừng phách. Cũng có thể chính màu vàng rực rỡ, quyến rũ của rừng phách khiến bầy ve không cầm lòng được đã phải phấn khích cất tiếng ca gọi hè. Cũng như người làm rừng, người đan nón, hình ảnh con người Việt Bắc trong bức tranh mùa hạ cũng được thể hiện trong khung cảnh này, đó là "cô em gái hái măng một mình". Em gái là tên gọi thân thương gần gũi trong mỗi gia đình, bày tỏ tình cảm yêu mến với những con người tưởng chừng đã trở nên ruột thịt thân thiết. Cách đọc và láy phụ âm cũng đem lại cho câu thơ tính nhạc đặc biệt. Giữa rừng núi bao la chỉ có một mình cô gái hái măng nhưng không hề lẻ loi đơn độc. Thiên nhiên rực rỡ thì con người cũng lạc quan yêu đời. Mùa thu kết thúc đoạn tứ bình cũng là lúc chấm dứt cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, thời khắc chia tay của Việt Bắc và người kháng chiến. Bức tranh thu Việt Bắc thật thơ mộng, lãng mạn dưới tông màu dịu mát của vầng trăng yên bình:
Rừng thu trăng gọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
Hai câu thơ nhiều thanh bằng mở ra không gian ngập tràn ánh trăng. Ánh trăng của tự do, ánh trăng của chiến thắng rọi sáng lên các bản làng và núi rừng trong niềm vui bất tận. Mùa thu còn ngọt ngào hơn với "tiếng hát ân tình". Ánh trăng đã là biểu tượng của cuộc sống hoà bình, tiếng hát cất lên giữa rừng thẳm, dưới vầng trăng xanh càng tô thắm hơn niềm tin và sự lạc quan hậu kháng chiến. Tiếng hát du dương lắng đọng là tiếng lòng của bao con người đã đi qua cuộc chiến tranh trường kỳ. Miêu tả "tiếng hát ân tình" của người ở lại, về sự "thuỷ chung" của người ra đi trên nền "ánh trăng hoà bình" chính là ý đồ nghệ thuật sâu xa của tác giả để nhấn mạnh một lần nữa đến tấm lòng son sắt thuỷ chung của người ra đi. Khép lại nỗi nhớ về Việt Bắc là bài thơ tái hiện toàn cảnh chiến dịch Điện Biên Phủ 56 ngày đêm đã làm nên chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Đoạn thơ mở ra là một bức tranh toàn cảnh về Điện Biên Phủ lịch sử với những chặng đường ra trận và những bước chân thần tốc:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Hình ảnh những con đường đã được nói lên trong lòng tự hoà sâu sắc. Cụm từ có nhiều "những đường" tạo ra không gian rộng lớn của đường Điện Biên thì cụm từ "của ta" cũng chất chứa bao tự hào kiêu hãnh, vừa thể hiện chủ quyền thiêng liêng đã giành lại được của dân tộc vừa biểu thị sự vui tươi, phấn khởi mà dân ta đã từng đánh đổi bằng xương máu. Hình ảnh những con đường mà nhà thơ nhắc đến không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có ý nghĩa tượng trưng cho con đường Cách mạng và con đường này đã đi qua biết bao gian khổ hy sinh để dẫn dân tộc đến ngày mai chiến thắng. Ở câu thơ thứ hai, hai từ láy đã được dùng một cách khéo léo nhằm miêu tả chân thật và sống động khí thế oai hùng của toàn dân tộc ngày đầu ra quân. "Đêm đêm" là thời gian của chiến dịch, là giờ của hành quân mà cũng là nền nếp chính quy thì "rầm rập" là âm thanh của những bước chân hùng dũng gợi nên khí thế mạnh mẽ, lực lượng đông đảo đang ào ạt tiến ra tiền tuyến. Với âm hưởng sử thi, hai câu thơ của Tố Hữu đã thể hiện thành công vẻ đẹp của một dân tộc mà tất cả đã trở thành bất tử. Từ miêu tả cụ thể, nhà thơ hướng đến miêu tả một cách khái quát vẻ đẹp của các lực lượng vũ trang tham gia chiến dịch mà cũng là quá trình dân tộc đã đấu tranh và chiến thắng:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Hai từ láy "điệp điệp", "trùng trùng" đều miêu tả lực lượng đông đảo, đội ngũ chỉnh tề mà còn phản ánh sự trưởng thành lớn mạnh không ngừng của một đội quân ban đầu chỉ vỏn vẹn 34 người. Từ vẻ đẹp bên ngoài, nhà thơ hướng đến vẻ đẹp bên trong của đoàn quân ra tiền tuyến. Đó là vẻ đẹp lý tưởng, vẻ đẹp tinh thần của người chiến sĩ với sự nghiệp bảo vệ đất nước. Hai hình ảnh "ánh sao" "đầu súng" đặt cạnh nhau đã tạo nên sự hòa quyện hoàn hảo của hiện thực và huyền ảo. Súng là biểu tượng của sự khốc liệt nhưng cũng là hình ảnh của tinh thần đấu tranh, ánh sao là vẻ đẹp của bầu trời, là hiện thân của tình yêu, của lý tưởng cộng sản đã dẫn đường chỉ lối cho người chiến sĩ. Hai hình ảnh thơ đã bổ sung, nâng đỡ lẫn nhau và mang lại cho người xem cảm giác về vẻ đẹp lý tưởng, của sự kiên trung bất khuất, to lớn tuyệt vời. Nói đến thắng lợi của dân tộc trong chiến dịch Điện Biên Phủ không thể không nhắc tới vẻ đẹp của nữ dân công phục vụ chiến trường:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.
Phép đảo ngữ và hai thanh trắc liên tiếp trong các cụm từ “đỏ đuốc”, “nát đá”, đã đem đến những ấn tượng về sự đông đảo, về sức mạnh, về niềm vui và ánh sáng. Những đoàn dân công tiếp nhận vận chuyển lương thực phục vụ chiến trường cũng bước đi trong đêm, những ánh đuốc soi đường đỏ rực nối tiếp nhau, dân công ào ạt tiến về phía trước, giáo thổi những tàn lửa bay tạt lại phía sau như nối dài thêm dòng người. Nghệ thuật thậm xưng trong hình ảnh “bước chân nát đá” ca ngợi sức mạnh phi thường của đoàn dân công đông đảo nối tiếp nhau ngày đêm tải lương, tải đạn ra chiến trường phục vụ chiến dịch, góp công vào chiến thắng của dân tộc. Sau vẻ đẹp của đoàn dân công là vẻ đẹp chói lòa của những đoàn xe vận tải đang băng băng ra trận:
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
Từ thực tế khi cuộc kháng chiến đi đến giai đoạn cuối cùng được trang bị những chiếc xe vận tải, cuộc đấu tranh của nhân dân đã được đạo diễn, nhà thơ sáng tạo nên nhiều hình ảnh nghệ thuật có tính biểu trưng sâu sắc. Cách nói ước lệ "nghìn đêm thăm thẳm sương dày" vừa gợi nhớ về thời nô lệ khổ đau, tối tăm lại gợi ra cuộc kháng chiến trường kỳ ba nghìn ngày với bao thử thách hy sinh. Hình ảnh đèn pha bật sáng ở câu cuối đã tạo ra sự tương phản dữ dội với hình ảnh thơ ở câu trước đó. Ánh đèn soi sáng những nẻo đường ra mặt trận, xua đi đêm dài thăm thẳm để mang lại ánh sáng lấp lánh của niềm vui chiến thắng. Tương lai tươi sáng đã hiện hình ngay khi đất nước còn đầy rẫy những gian khó. Đoạn thơ khép lại với chiến thắng vang dội của Việt Nam:
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Với nghệ thuật thống kê cùng hàng loạt địa danh gắn liền với các trận đánh và những chiến thắng của dân tộc đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ. Bốn câu thơ như một lời đúc kết cô đọng về tinh thần của toàn dân tộc đã biến đau thương trở thành sức mạnh để giành chiến thắng. Niềm vui tỏa khắp muôn nơi, từ Việt Bắc đến Hà Nội, từ miền Nam ra miền Bắc. Những nẻo đường ấy đã trở thành trời của người, đất của ta khiến âm hưởng thơ thật náo nức, tưng bừng. Với thể thơ lục bát cùng nhiều hình ảnh chân thật, tái hiện sinh động cuộc sống kháng chiến của các chiến sĩ cùng ý nghĩa "ta" – "mình" đặc biệt, Việt Bắc sẽ là bài hát bất tử ca ngợi sự gắn kết thương yêu của đồng bào Việt Bắc và người lính Cách mạng.
Như vậy, qua bài thơ "Việt Bắc", chúng ta có thể thấy được tình cảm gắn bó đầy nghĩa tình thủy chung giữa quân và dân ta trong những năm tháng kháng chiến gian khổ cũng như tài năng của nhà thơ Tố Hữu trong việc diễn đạt một câu chuyện mang tính chính trị trở nên da diết, trữ tình và thiết tha. "Việt Bắc" là tiếng hát ân tình thuỷ chung của người kháng chiến với chiến khu kháng chiến, là khúc ca đầy tự hào về những chiến thắng hào hùng của dân tộc. Qua lời thơ, Tố Hữu cũng cho thấy những giá trị truyền thống cao đẹp cùng với tình cảm to lớn của người Việt Nam đã kế thừa trong thời đại Hồ Chí Minh đầy sôi động và mãnh liệt.
2. Dàn ý viết bài cảm nhận bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
Mở bài
Giới thiệu khái quát về Tố Hữu – nhà thơ tiêu biểu của thơ ca cách mạng Việt Nam, người luôn gắn bó thơ ca với những chặng đường lịch sử của dân tộc.
Giới thiệu bài thơ Việt Bắc – tác phẩm tiêu biểu viết về cuộc kháng chiến chống Pháp, thể hiện sâu sắc tình nghĩa gắn bó giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc.
Nêu hoàn cảnh sáng tác: sau thắng lợi năm 1954, trong cuộc chia tay đầy xúc động giữa người đi và người ở.
Dẫn dắt vấn đề: cảm nhận chung về giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của bài thơ.
Thân bài
Khái quát chung về nội dung và cảm hứng chủ đạo
Bài thơ là khúc hát ân tình, thể hiện nỗi nhớ tha thiết giữa người đi và người ở lại. Đồng thời, tác phẩm còn là bản tổng kết giàu cảm xúc về chặng đường kháng chiến gian khổ mà hào hùng của dân tộc.
Phân tích khung cảnh chia tay và tâm trạng lưu luyến
Lời thơ mở đầu gợi lên không khí bịn rịn trong buổi chia tay.
Cách xưng hô “mình – ta” tạo giọng điệu thân mật, gần gũi như lời ca dao.
Tâm trạng người ra đi được thể hiện qua những cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến, khó nói thành lời.
Phân tích nỗi nhớ về cuộc sống kháng chiến gian khổ mà nghĩa tình
Nỗi nhớ gắn với những ngày tháng gian nan nơi núi rừng: thiên nhiên khắc nghiệt, cuộc sống thiếu thốn.
Những kỉ niệm “miếng cơm chấm muối”, “mưa nguồn suối lũ” cho thấy sự đồng cam cộng khổ.
Hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên giản dị, cần cù, giàu nghĩa tình, luôn một lòng với cách mạng.
Phân tích bức tranh thiên nhiên và con người Việt Bắc
Thiên nhiên hiện lên qua bức tranh bốn mùa với vẻ đẹp hài hòa, giàu sức gợi.
Con người lao động xuất hiện trong từng bức tranh, mang vẻ đẹp khỏe khoắn, bình dị.
Sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp đậm đà bản sắc dân tộc.
Phân tích hình ảnh Việt Bắc trong kháng chiến
Những đoàn quân ra trận với khí thế hào hùng, mạnh mẽ.
Niềm vui chiến thắng lan tỏa khắp nơi, thể hiện sức mạnh đoàn kết của dân tộc.
Việt Bắc hiện lên như trung tâm của cách mạng, nơi hội tụ niềm tin và sức mạnh.
Phân tích hình tượng lãnh tụ và ý nghĩa tư tưởng
Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà vĩ đại, là nguồn sáng dẫn đường cho cách mạng.
Tác phẩm thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng, Bác Hồ và nhân dân.
Đánh giá nghệ thuật
Thể thơ lục bát giàu nhạc điệu, dễ đi vào lòng người.
Kết cấu đối đáp “mình – ta” mang đậm màu sắc dân gian.
Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, giàu sức gợi cảm.
Sự kết hợp hài hòa giữa chất trữ tình và chất chính trị tạo nên phong cách riêng của thơ Tố Hữu.
Kết bài
Khẳng định lại giá trị của bài thơ Việt Bắc: vừa là khúc ca ân tình sâu nặng, vừa là bản hùng ca về cuộc kháng chiến.
Nêu cảm nhận chung: bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về tình nghĩa thủy chung, về vẻ đẹp con người và thiên nhiên Việt Bắc.
Liên hệ: tác phẩm góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, lòng biết ơn quá khứ và ý thức trân trọng những giá trị lịch sử của dân tộc.
