1. Lập dàn ý phân tích
1.1. Mở bài
Giới thiệu về tác giả Quang Dũng, tác phẩm nêu cảm nhận chung về vẻ đẹp hào hùng, hào hoa người lính Tây Tiến.
1.2. Thân bài
Giải thích từ ngữ:
– Hào hùng là vẻ đẹp của phẩm chất và cốt cách thuộc về ý chí.
– Hào hoa: lãng mạn, bay bổng, thuộc về ý chí.
– Là hai mặt cảm xúc hòa quyện với nhau làm nên vẻ đẹp, hình tượng người lính thời kỳ chống Pháp
Phân tích qua đoạn thơ:
– Cảm xúc hào hùng, hào hoa thể hiện qua bức chân dung người lính mang phong thái anh hùng, khao khát lập chiến công (Hình ảnh Đoàn binh không mọc tóc, dữ oai hùm)
– Cảm xúc hào hùng, hào hoa miêu tả thông qua nội tâm người lính (khi thì hào hùng với khát vọng bảo vệ Tổ quốc với hình ảnh “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới”; Khi lại lãng mạn hào hoa trong nỗi nhớ người con gái xinh đẹp trên mảnh đất Hà Thành)
– Cảm xúc hào hùng, hào hoa thể hiện khi nhà thơ nói về sự hy sinh (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh; thực trạng thiếu thốn khốc liệt bị vẻ đẹp tráng sĩ làm mờ đi với câu nói “chẳng tiếc đời xanh”. “Áo bào thay chiếu anh về đất. Sông Mã gầm lên khúc độc hành”)
– Âm hưởng lời thơ cùng nhiều biện pháp nghệ thuật góp phần tạo nên vẻ đẹp hào hoa và hào hùng người lính Tây Tiến.
1.3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề: Bài thơ làm hiện lên một bức chân dung mới mẻ về hình tượng người lính, tạo nên âm hưởng thời đại.
2. Cảm nhận vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người lính Tây Tiến hay nhất
Quang Dũng là nhà thơ của người lính, ông đã sống một đời lính oanh liệt và hào hùng. Có lẽ chính vì vậy mà hình ảnh người lính trong thơ Quang Dũng hiện lên thật đặc biệt. Nói về nét đặc biệt trong thơ Quang Dũng, ta không thể không kể đến bài thơ “Tây Tiến” – bông hoa đầu mùa của Cách mạng Việt Nam. Vẻ đẹp của bông hoa ấy khiến nhà thơ Vũ Quần Phương đã phải thốt lên trong một nhận xét: “Quang Dũng đứng riêng một ốc đảo, đặc biệt với bài thơ Tây Tiến, ông không có điểm gì chung với những nhà thơ khác, ông đứng biệt lập như một hòn đảo giữa các nhà thơ kháng chiến”. Phải chăng cái mới, cái lạ, cái riêng biệt ấy chính là vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của người lính Tây Tiến.
Tây Tiến là một phân hiệu bộ đội được thành lập đầu năm 1947. Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới phía Tây. Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52. Quang Dũng cũng chuyển sang đơn vị khác và đó cũng là lúc ông sáng tác bài thơ này. Thành phần chủ yếu của đơn vị Tây Tiến là những thanh niên trí thức Hà Nội – phần đa là học sinh, sinh viên trí thức, tiểu tư sản nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, tình nguyện xếp bút nghiên lên đường chiến đấu. Vì vậy, người lính Tây Tiến luôn mang trong mình vẻ đẹp của sự hào hùng và hào hoa.
Hào hùng là vẻ đẹp mang phẩm chất, cốt cách mạnh mẽ thuộc về ý chí. Còn hào hoa là thuộc về tình cảm lãng mạn. Hai nét hào hùng và hào hoa dường như đối lập nhau, hào hùng là ý chí là sức mạnh là hào khí của một lớp thanh niên mang tinh thần thời đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Hào hoa lại là một tâm hồn mềm mại lãng mạn “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”. Vẻ đẹp hào hùng của người lính Tây Tiến trước hết được thể hiện qua khí phách ngang tàng, tinh thần lạc quan trước khó khăn, gian khổ trên chặng đường hành quân qua miền Tây Bắc:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”
Hiện lên trước mắt người đọc là khung cảnh rừng núi Tây Bắc đầy hiểm trở, khắc nghiệt với những núi cao, vực sâu trong thời tiết sương mù lạnh lẽo. Qua đoạn thơ, những địa danh: “Sài Khao”, “Mường Lát” hiện lên thật xa ngái, hoang vu cùng với bước đường hành quân gian khổ. Đó là những cuộc hành quân qua miền Sài Khao sương lấp mây giăng thơ mộng đầy gian lao vất vả. Câu thơ gợi khung cảnh rất đặc trưng của vùng rừng núi: màn sương vùng cao che khuất bóng người, nhưng chính nó làm nổi bật lên ý chí kiên cường vượt lên khó khăn, gian khổ của người lính.
Thiên nhiên ở đây còn hùng vĩ, dữ dội hơn qua những con dốc, vực sâu – đó là những con dốc, những dãy núi dựng đứng hiểm trở, ngược hất lên rồi lại thấp xuống. Ngược lên “khúc khuỷu” – từ láy gợi ra sự gập ghềnh, khó đi; còn thấp xuống thì “thăm thẳm” – từ láy như kéo dài mãi thêm. Câu thơ với nhịp thơ 4/3 cùng thanh trắc tạo cảm giác khó nhọc, hụt hơi. Khác với cách nói lãng mạn của Chính Hữu “đầu súng trăng treo”, hình ảnh “súng ngửi trời” giúp tăng thêm phần chân thực và cho người đọc thấy được sự trẻ trung, tinh nghịch của anh lính giữa đỉnh đèo Tây Bắc. Song, ta cũng thấy được rằng trong gian khổ chiến tranh, bằng tinh thần lạc quan và lòng tin, ta vẫn luôn hướng về chiến thắng. Chưa hết, câu thơ “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” như được bẻ ra làm đôi với hai không gian hoàn toàn đối lập của rừng núi Tây Bắc. Chính cách ngắt nhịp bẻ đôi câu thơ đã vẽ ra một đường gấp khúc, tựa như những vạt núi dựng đứng bày ra trước mắt đo lòng can đảm của con người. Có lẽ đường hành quân với binh đoàn Tây Tiến chưa bao giờ là dễ dàng …
Có thể nói, những khó khăn, gian khổ đã trở thành một phần không thể thiếu của đời lính và trở thành nỗi ám ảnh in sâu trong tiềm thức tác giả. Quang Dũng không bao giờ có thể nào quên:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm mường hịch cọp trêu người”
Nhà thơ đã tái tạo lại hình ảnh điển hình, sống động nhất về thời khắc đầy khó khăn, thử thách. “Chiều chiều”, “đêm đêm” đều là những mốc thời gian được ước lệ, không rõ buổi chiều hay buổi đêm nào. Song, hai cụm từ trên cũng được ngầm hiểu rằng, những gian khổ, khó nhọc như một vòng tuần hoàn, liên tục lặp lại và kéo dài theo năm tháng. Không chỉ không ngại khó khăn, chấp nhận hy sinh và mất mát, sự oai hùng, dũng cảm của người lính Tây Tiến còn được thể hiện qua cách họ tiếp nhận hiện thực bình thản đến kỳ lạ, họ biến cái khốc liệt thành niềm kiêu hãnh tự tôn cho chính mình:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Chân dung người lính được khắc họa bởi hai nét vẽ chủ đạo: Bi và tráng. Bi là bi thương. Tráng là hùng tráng, hào hùng. “Bi” – “Tráng” vừa đối lập mà vừa thống nhất hài hòa nghĩa là vừa đau thương vừa hào hùng hay càng đau thương càng hào hùng. Bi thương ấy hiện lên qua ngoại hình ốm đau, tiều tụy, đầu trọc “không mọc tóc”, da dẻ xanh xao, héo úa “quân xanh màu lá”. Rừng thiêng nước độc của Tây Bắc thật khủng khiếp! Hậu quả của sốt rét rừng ác tính, của đói rét, gian khổ đã làm bào mòn đi sức trẻ của những người lính. Sốt rét là một thực tế khắc nghiệt. Thơ ca kháng chiến chống Pháp không ít lần nhắc đến điều này:
“Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Rét run người vừng trán ướt mồ hôi”
( Đồng Chí – Chính Hữu )
Sốt rét đến “Má anh vàng nghệ” (Tố Hữu), đến “Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật/Đâu còn tươi nữa những ngày xanh” (Thôi Hữu), … Còn lính Tây Tiến sốt rét đến rụng hết tóc trông đến kỳ dị.
Đối lập với “bi” là “tráng”. Nghệ thuật tương phản giữa cái bên trong – tinh thần và cái bên ngoài – ngoại hình đã tạo nên vẻ đẹp hào hùng của đoàn quân Tây Tiến. Đoàn quân ốm mà không yếu mà vẫn hùng vì: Hình ảnh “không mọc tóc” gợi cái ngang tàng, ngạo nghễ, coi thường gian khổ của chất lính trẻ luôn hóm hỉnh đùa vui. Từ “đoàn binh” nghĩa rộng hơn từ “đoàn quân” để chỉ sự đông đảo, hùng mạnh. Ba từ “dữ oai hùm” là phi thường hóa của người lính. Đó là những con người làm chủ tình thế, áp đảo kẻ thù. Vì thế cái hùng lấn át cái bi, sức mạnh chiến đấu lấn át hoàn cảnh tạo nên một tập thể có sức mạnh. Những người lính Tây Tiến sống anh hùng mà khi họ ngã xuống cũng mang một vẻ đẹp hào hùng. Xuyên suốt 34 câu nhưng không lúc nào ta thấy bài thơ hiện lên nét bi lụy, não nùng. Ngay cả khi viết về cái chết, Quang Dũng vẫn nhấn mạnh cái dũng khí hùng tráng của đoàn binh Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”“…
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Ba lần Quang Dũng nhắc tới sự hy sinh, nhưng lần nào cũng là hình ảnh ẩn dụ để tránh đi từ “chết”. Đối với tác giả, khi người lính ngã xuống chỉ là lúc họ nghỉ ngơi trước cuộc đời “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. Và kể cả khi đã hy sinh, tinh thần chiến đấu và dáng vẻ của họ vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên cương nước ta. Đọc tới câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nghe thật đau lòng, chua xót. Từ “Rải rác” được đảo lên đầu câu nhấn mạnh sự quạnh quẽ, lạnh lẽo. Xót xa thay những người lính đã ngã xuống nơi xứ người … Vậy mà, đối với người trong cuộc, với những người lính họ lại “chẳng tiếc đời xanh”. Những người lính Tây Tiến là vậy! Dù biết phải đánh đổi và đối mặt với những gì nhưng họ vẫn bất chấp khó khăn, bỏ mặc sự chết chóc cận kề. Đó là tư chất người anh hùng.
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Tác giả mượn hình ảnh áo bào trang trọng để nói về sự ra đi của những người lính. Điều này vừa cho thấy sự trân trọng, yêu thương chân thành của Quang Dũng dành cho những người lính Tây Tiến, vừa giảm bớt đi sự buồn thương, bi lụy trước sự mất mát quá lớn này. Hình ảnh sông Mã xuất hiện hai lần ở đầu và cuối bài như được nhân hóa thành một người bạn đồng hành cùng đoàn binh Tây Tiến. Khi chứng kiến cảnh từng người lính ngã xuống, “sông Mã gầm lên khúc độc hành” – khúc nhạc cô đơn, buồn thương như tiễn đưa các anh về với đất mẹ. Câu thơ gợi lên hy sinh đầy anh dũng.
Đứng trước thiên nhiên khắc nghiệt, hiểm nguy, hoàn cảnh khó khăn và thiếu thốn trước mắt càng làm nổi bật lên vẻ đẹp hào hùng của những người lính Tây Tiến – kiên định trong ý chí, ngạo nghễ trong khí phách. Không chỉ biết đối mặt với hiện thực khó khăn, mà còn hơn thế nữa, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn vô cùng – một nét đẹp của những người con đất Hà Thành ngày xưa. Dù trên đường hành quân đã mỏi mệt, dù phải đối diện với sự hiểm nguy, lạnh lẽo thậm chí là cái chết trước mặt. Nhưng tất cả điều đó đều không ngăn được tình yêu thiên nhiên, lãng mạn và tinh tế của người lính:
“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
hay
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Khác với những câu thơ trên, âm điệu câu thơ này vút lên nghe thật nhẹ nhàng bởi các thanh bằng như xóa đi cảm giác mỏi mệt, thay vào đó là cảm giác lâng lâng trong bước chân anh lính … Đồng thời, hai câu thơ mở ra một không gian hư ảo, lung linh thơ mộng của núi và rừng. Trong màn sương như có hương thơm thoang thoảng của hoa và trong những bông hoa kia cũng có chút hơi sương. Đây là cách nói cũng như cảm nhận đầy hoa mỹ của anh lính trẻ Hà Thành tâm hồn thơ mộng, hào hoa và lãng mạn. Khi xung pha trận mạc, người lính Tây Tiến có thể trở thành những người anh hùng chiến đấu anh dũng quả cảm, nhưng trong giờ phút giải lao, họ cũng thật gần gũi, chân thành và quay trở về với đúng tâm hồn mình – hào hoa, mơ mộng rất bình dị giữa đời thường. Qua lăng kính lãng mạn của họ, một buổi liên hoan văn nghệ giản đơn cũng có thể trở thành một đêm hội:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.”
Cái dữ dội của chiến tranh biến mất chỉ còn ánh sáng tràn ngập của hội đuốc hoa và tâm hồn thắm thiết của tình quân dân. Câu thơ cảm thán “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” là cái ngỡ ngàng, cái đắm say của tâm hồn hóm hỉnh, tinh nghịch của người lính. Có thể người lính như được tô đậm bởi vẻ đẹp con người, cảnh vật vùng Tây Bắc, bay lên trong tiếng nhạc điệu khèn. Những chữ “xiêm áo”, “khèn lên,” “man điệu”, “nhạc về” gợi lên vẻ đẹp vừa gần vừa xa của nơi xứ lạ làm lòng người như xốn xang hơn.
Giữa đêm đen, lửa đuốc thắp lên, cháy bùng dữ dội gợi nhớ tới không gian đêm hội đuốc hoa tưng bừng chung vui với bản làng ấm tình dân quân. Đúng là bộ đội đi đến đâu, ánh sáng về theo tới đó! Ta nhìn thấy chính niềm vui, sự hào hứng của Quang Dũng trong từng câu chữ, trong từng nhịp thơ. Cộng hưởng với âm nhạc của câu chữ là âm thanh của tiếng khèn. Niềm rạo rực bồi hồi trong ngực trẻ, tiếng gọi “Kìa em” với đầy sự ngỡ ngàng, thích thú khi bị hấp dẫn bởi vẻ đẹp, bởi điệu múa của những cô gái Tây Bắc. Tất cả như hòa quyện vào nhau như chào đón, gợi vấn vương …
Tác giả đã tạo nên một bức tranh hùng vĩ về cuộc chiến kháng chiến chống Pháp, về những người lính Tây Tiến với sự kiên cường, gan dạ và tinh thần yêu nước không ngừng nghỉ. Những hình ảnh trong tác phẩm đã truyền đạt một thông điệp sâu sắc về tình yêu quê hương, sự hy sinh và lòng đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến giành độc lập. Vẻ đẹp hào hùng hào hoa của người lính Tây Tiến đã trở thành một trong những biểu tượng quan trọng của cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam. Nó không chỉ là niềm tự hào của người dân Việt Nam mà còn là một nguồn cảm hứng, động viên cho những thế hệ trẻ tiếp nối trong công cuộc xây dựng đất nước.
Khắc họa vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng ngợi ca một thế hệ thanh niên với lý tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – họ là những con người đã nguyện dâng hiến máu xương mình cho tổ quốc. Thời gian đã đi qua, gió bụi thời gian có thể phù mờ bao huyền thoại nhưng tượng đài về người chiến binh Tây Tiến năm xưa thì mãi mãi bất tử cùng thời gian. Càng trân trọng và yêu quý thế hệ cha anh ngày ấy đã ngã xuống vì hòa bình, thế hệ thanh niên chúng ta ngày nay phải quyết tâm sống sao cho thật xứng đáng.
Trên đây là các bài văn mẫu Cảm nhận vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến Luật Minh Khuê sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất! Trân trọng cảm ơn!