1. Dàn ý phân tích vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của con sông Đà

1.1. Trữ tình ở dòng chảy

- Từ trên cao nhìn xuống, sông Đà như "cái dây thừng ngoằn ngoèo"

- Ở những quãng yên thì như thiếu nữ kiều diễm "tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo."

- Điệp ngữ "tuôn dài" cùng nhịp văn mềm mại như ru tạo nên vẻ đẹp uyển chuyển, thướt tha của dòng sông. Phép so sánh dòng sông như một "áng tóc trữ tình" là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo.

- Như người cố nhân lắm bệnh lắm chứng, "chốc dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt gỏng ngay".

 

1.2. Trữ tình ở màu nước

- Mùa xuân, nước sông Đà "xanh ngọc bích" chứ không "xanh màu xanh canh hến như màu của sông Gâm, sông Lô".

- Mùa thu, nước "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa"

Liên hệ: màu nước sông Hương "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím".

Hoặc màu nước đỏ nặng phù sa của sông Hồng.

- Chưa bao giờ màu đen như "thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ mực Tây vào rồi gọi bằng một cái tên láo lếu'.

 

1.3. Trữ tình ở đôi bờ sông

- Đôi bờ sông lặng như tờ: "từ đời Lý, Trần, Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi".

- "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử", "hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa".

- "Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn, bươm bướm trên sông Đà", đẹp thơ mộng "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng".

- Dọc bờ sông: "tịnh không một bóng người; cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp, một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm".

- Trên mặt nước "con cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đạp sông đuổi mất đàn hươu vụt mất".

- Sông Đà trong sự liên tưởng đến thơ Tản Đà "dải Đà bọt nước lênh bênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của một người tình nhân chưa quen biết. 

 

2. Phân tích chi tiết vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của con sông Đà

Là người tự do, phóng túng, Nguyễn Tuân quan niệm "đời là một trường du hý", sống là chơi mà viết cũng là chơi. Đi đã trở thành một lý tưởng, một triết lý sống của ông ngay từ thời trai tráng trước Cách mạng. Trong "Vang bóng một thời", thời vàng son mà Nguyễn Tuân nhận thấy có khi là những sinh họat bình thường gần gũi xung quanh con người, do hờ hững mà người ta đã vô tình bỏ quên. Đó là những thú chơi tao nhã, những nét đẹp cổ truyền của dân tộc Việt Nam như: uống trà ("Những chiếc ấm đất", "Chén trà trong sương sớm"); uống rượu ("Hương cuội"), chơi đẹp ("Thả thơ", "Đánh thơ", "Một cảnh thu muộn"); hoa tay đẹp ("Trên đỉnh non tản"), tài nghệ đẹp ("Chém treo ngành", "Ném bút chì") và nhân cách đẹp ("Chữ người tử tù") ... những cái đẹp mà con người đã vô tình quên đi và có lẽ đời sau sẽ không biết đến nữa. 

Cái đẹp luôn tồn tại muôn đời trong tâm tưởng chúng ta, và cái đẹp của "Vang bóng một thời" như Vũ Ngọc Phan từng nói: "Cái tiếng vang của thời đã qua, cái bóng của thời đã qua, mà ngày nay tưởng như văng vẳng". Suốt dọc đường chân trời góc bể, dù lạ người lạ cảnh, nhà văn vẫn có thể chuyển biến thành "quen người quen cảnh". Ấy là nhờ tài quan sát, tỉ mỉ trong từng khâu nhìn ngắm, cảm nhận, ghi chép của ông. Nhà văn nguyện được đi mãi trên con đường vô định: "Tôi sống với ngoài đường, với những con người đi trên đường, với cái luân lý của người khách bộ hành" (Chiếc va ly mới). Tâm hồn cô đơn, bất lực và quẩn quanh của ông trước Cách mạng được bộc lộ rõ trong "Thiếu quê hương", khi nhân vật Bạch chỉ luôn thèm muốn được đổi chỗ, rong ruổi trên những con đường dài hun hút, không có chỗ bắt đầu mà cũng chẳng có điểm kết thúc. Họ tha lê cái đầu rỗng tuếch, cái thân tàn tạ trên đường đời, cái phẫn uất ngàn năm không gột rửa, chỉ biết lấy xe dịch làm cứu cánh.

Lướt dài trên hành trình của Nguyên Tuân như thế để mỗi người nhận ra rằng, nhà văn đã "lột xác" thế nào trong "Tùy bút sông Đà" sáng tác năm 1960, khi từ hình ảnh một "Tây Bắc đầy của chìm, của nổi, với những phong cảnh bao la một niềm lãng mạn xã hội chủ nghĩa" với "Với tất cả cái nhộn nhịp tươi trẻ của tất cả con người làm ruộng xã hội chủ nghĩa, làm đường xã hội chủ nghĩa" đã hiện ra dài hun hút trên trang văn sau Cách mạng. Và tiêu biểu trong đó không thể không kể đến tùy bút "Người lái đò sông Đà" với vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội song cũng rất trữ tình, thơ mộng. 

Nhà văn Pautopxki từng khẳng định: "Nhà văn là người dẫn đường đến xử sở của cái đẹp. Bước vào thế giới văn chương nghệ thuật là bước vào thế giới của cái đẹp." Quả thật vậy, Nguyễn Tuân là một nhà văn chân chính khi dẫn người đọc đến với vẻ đẹp của dòng sông Đà, không chỉ hung bạo dữ dội mà còn rất trữ tình, thơ mộng. 

Hình tượng con sông Đà trữ tình hiện lên với ba góc nhìn. Đầu tiên là góc nhìn từ trên cao nhìn xuống khi đi tàu bay, tiếp đến là góc nhìn của người đi rừng lâu ngày gặp lại sông Đà và của người trôi thuyền trên sông phía hạ lưu; và cuối cùng là góc nhìn của một cố nhân, tình nhân. Nhà văn đã miêu tả con sông như một công trình nghệ thuật, một tác phẩm hội họa mà tạo hóa ban tặng tô điểm cho đất nước, ông khám phá dòng sông ở phương diện thẩm mỹ với phong cách tài hoa. Dù ở góc nhìn nào, nhà văn cũng đều thể hiện được kiến thức phong phú của mình trên nhiều lĩnh vực: văn hóa, điêu khắc, điện ảnh, lịch sử, hội họa, văn học,... Mỗi câu văn tuôn ra đều giống như một áng tóc dài tha thiết, mượt mà và êm ả đến độ người ta phải bật thốt lên vì tài năng văn chương của người nghệ sĩ họ Nguyễn.

Từ trên tàu bay nhìn xuống, Tây Bắc như người thiếu nữ duyên dáng, yêu kiều mà sông Đà chính là áng tóc mềm mượt của người thiếu nữ đang khao khát thanh xuân này. Nguyễn Tuân đã nhìn thấy dòng chảy uốn lượn của con sông Đà tựa như một áng tóc trữ tình buông dài vắt ngang qua núi rừng hùng vĩ. Đẹp lắm, duy dáng lắm! Nhà văn sử dụng câu văn dài, ít ngắt quãng để gợi tả độ dài của sông Đà và mái tóc của người thiếu nữ. Đồng thời sử dụng từ ngữ gợi tả dòng chảy êm đềm của sông Đà mang cái linh hồn của Tây Bắc "Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc cuồn cuộn mùi khói mèo đốt nương xuân". Điệp ngữ "tuôn dài' cùng nhịp văn mềm mại như ru tạo nên vẻ đẹp uyển chuyển, thướt tha của dòng sông. Phép so sánh dòng sông như một "áng tóc trữ tình" là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Phép so sánh ấy đầy chất thơ, chất họa, chẳng những phô ra được vẻ đẹp dịu dàng, duyên dáng, kiêu sa, kiều diễm của dòng sông Đà mà còn bộc lộ chất phong tình, lãng mạn của người nghệ sĩ. Dòng Đà giang giờ đây tựa như một nàng thiếu nữ xuân sắc đang buông hờ mái tóc làm duyên, làm dáng giữa mùa hoa ban, hoa gạo dưới vẻ đẹp bồng bềnh của mây khói. Thần sắc của thiên nhiên nơi đây được Nguyễn Tuân miêu tả với vẻ đẹp rất riêng, rất lạ, rất thơ. Khói núi Mèo mà người đồng bào đốt nương mỗi khi Tết đến cũng khiến người ta nao lòng đến lạ. Tây Bắc muôn đời vẫn đẹp, sông Đà hung bạo đến đâu cũng có lúc kiều diễm như cô gái trẻ bùng cháy sức xuân trong khoảnh khắc thanh xuân. Bao nhiêu vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình quyến rũ của đất trời đã ùa về thức dậy trong câu văn của Nguyễn Tuân - "Người thợ kim hoàn của chữ" (Hoài Thanh)

Vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của sông Đà còn được thể hiện ở màu sắc đặc biệt của dòng sông. Mê đắm trước vẻ đẹp của sông Đà, Nguyễn Tuân đã phát hiện ra sự thay đổi và biến chuyển của màu nước trên sông. Sông Đà hiện lên với vẻ đẹp lạ lùng, quyến rũ như một mỹ nhân với những điệu nghệ làm say đắm lòng người. Sông Đà luôn làm mới, làm đẹp với chính mình, sắc nước sông Đà thay đổi theo từng mùa, mỗi mùa một vẻ đẹp riêng. Nguyễn Tuân đã say sưa mê đắm, chiêm nghiệm vẻ đẹp của con sông này để cất lên những trang viết như thứ men say gửi đến bạn đọc. Con sông Tây Bắc thật bay bổng và lãng mạn biết bao! "Tôi đã say sưa làn mây mùa xuân bay trên sông Đà, tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống sông Đà", lúc này đây người nghệ sĩ ấy đã phó amwjc thả trôi tâm hồn mình cùng với sóng nước sông Đà, chính vẻ đẹp của mây trời Tây Bắc bung nở hoa đã gieo nên những hạt mầm xanh tốt tạo nên cái sắc riêng không trộn lẫn của thiên nhiên nơi đây Nếu như Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn thấy dòng sông Hương với ánh nắng ban mai rực rỡ tạo nên cái sắc "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím", tạo nên từ cảnh sắc thiên nhiên đôi bờ và sự phản quang của đất trời vạn vật để tạo nên một đóa hoa phù dung mĩ miều, thì Nguyễn Tuân lại viết về sông Đà với những cảm quan nhạy bén.

Mùa xuân nước sông Đà xanh ngọc bích chứ không "xanh màu xanh canh hến của nước sông Gâm, sông Lô". Cũng là xanh đấy, nhưng xanh ở đây là sự kết đọng của vẻ đẹp toàn bích, trong sáng, xanh một màu xanh gợi cảm, trong lành, rung rinh trong nắng sớm mà lấp loáng bóng cây rợp quang dòng sông. Sắc xanh ấy phải chăng là cái điệu xanh của xanh cây, xanh rừng, xanh núi, xanh mây trời, xanh như cái sức mạnh kì diệu mà tạo hóa đã ban tặng cho thiên nhiên hùng vĩ nơi đây. Mùa thu, nước sông Đà "lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa"; "lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội mỗi độ thu về'. Câu văn sử dụng phép so sánh đặc sắc khiến người đọc hình dung được vẻ đẹp đa dạng của màu nước sông Đà. Lần đầu tiên có người dùng màu sắc của da người để miêu tả vẻ đẹp của dòng sông. Cái màu đỏ "lừ lừ" ấy có lẽ chỉ Nguyễn Tuân mới thấy, mới cảm mới viết nên được. Nó chỉ có thể tạo nên từ bàn tay của một người nghệ sĩ tài hoa, uyên bác. Đặc biệt, phải khẳng định rằng, dù có đa sắc màu nhưng nước sông Đà chưa bao giờ màu đen như bọn "thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ra đổ thức mực Tây vào rồi gọi bằng một cái tên láo lếu". Qua những câu văn miêu tả về màu nước sông Đà, Nguyễn Tuân cũng đã làm nổi bật được cái trữ tình, thơ mộng của dòng nước còn cả cái dữ dội ngàn đời của con sông nơi đầu tổ quốc. Nguyễn Tuân đã dựng lên cả một thế giới thiên nhiên rộng mở, tươi đẹp sống động và giãy giụa trên trang giấy, những trang viết ấy tựa như "một bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm". 

"Con sông Đà gợi cảm" - câu văn như một lời khẳng định chắc chắn. Qua góc nhìn của người đi rừng lâu ngày gặp lại sông Đà, của người trôi thuyền trên sông phía hạ lưu và góc nhìn của cố nhân, sông Đà hiện lên bởi những hình ảnh của quá khứ hiện tại và tương lai với điểm nhìn cận cảnh. Trong tầm mắt người thưởng ngoạn, dòng sông hiện lên với vẻ đẹp hoang sơ, "đối với mỗi người, sông Đà gợi một cách". Và đối với nhà văn, đã có lần ông nhìn sông Đà như một cố nhân, như một người bạn cũ lâu ngày gặp lại. Nhà văn kể rằng: chuyến ấy, ông đi rừng núi cũng hơi lâu, và khi về, nhìn thấy sông Đà loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy, từ xa lại gần, ông háo hức như tìm lại được người tri kỉ cũ. Một màu nắng tháng ba Đường Thi "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" hiện lên trang văn, nhưng cũng như một bức vẽ nắng sinh động, ta cũng như thấy vui khi nghĩ đến cảnh tượng nắng lấp lánh trải lên nước sông xanh biếc. Và ta lại chẳng lạ gì khi cảm nhận được niềm vui sum vầy "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng". Lòng ta cũng rộn rã "giòn tan" như nắng, lòng ta cũng như đi vào cơn mộng đẹp vô ngần trong giấc say. Và khi ấy, cảm giác của người đi xa về nhận mặt từng cảnh vật, từ "bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà" thật sự khiến người nghệ sĩ phải đắm say: "đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân, mặc dù người cố nhân ấy mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu dàng đấy, chốc lại bẳn tính và gắt gỏng thác lũ ngay đấy". Sông Đà đã trở thành người bạn thủy chung, nặng tình nặng nghĩa luôn đợi người lữ khách Nguyễn Tuân. 

Leonit Leonop đã từng khẳng định: "Một tác phẩm phải là một phát minh về hình thức, một khám phá về nội dung." Bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ của con sông, Nguyễn Tuân còn đưa người đọc lạc vào thế giới cổ tích, thế giới tiền sử. Câu văn "thuyền tôi trôi trên sông Đà" toàn vần bằng tạo cảm giác yên ả, thanh bình, sự tĩnh lặng. Tác giả hướng đến lịch sử của những buổi đầu dựng nước và giữ nước: "Hình như từ đời Trần, đời Lý, đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi." Sự yên tĩnh, "lặng tờ" ấy càng  làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ và hồng hoang của đôi bờ sông Đà. Đúng như tác giả đã so sánh "bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích xưa". Phép so sánh độc đáo, dùng không gian để gợi mở thời gian, mở rộng biên độ làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, nguyên thủy của buổi sơ khai. Hai chữ "lặng tờ" được nhắc đi nhắc lại tới hai lần theo kiểu trùng điệp rất đặc thù của thơ, không gian vắng lặng nhưng không thể "lặng tờ" hơn được nữa. Du khách đang đi thuyền trên quãng sông này nhưng lại có cảm giác mình đang đi ngược về quá khứ xa xôi.

Theo dòng trôi của con thuyền, người đọc đi vào thế giới hoang sơ, tĩnh mịch, bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ, hồn nhiên. Cũng thấy nương ngô "nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa", đã có dấu ấn của con người in trên màu xanh mỡ màng ấy, nhưng thật vô cùng ngạc nhiên "mà không một bóng người". Chỉ có đồi gianh nối tiếp đồi gianh trùng điệp với những "nõn búp" ngon lành. Hình ảnh đàn hươu xuất hiện trên màu xanh bát ngát những đồi gianh là một nét vẽ tài hoa làm cho bức tranh thiên nhiên sông Đà đượm màu "hoang dại" và "cổ tích". Không phải chú nai vàng ngơ ngác trong cái xào xạc của lá thu rơi thuở nào mà ở đây chỉ có: "Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm". "Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích xưa". Nguyễn Tuân so sánh không phải để cụ thể hóa sự vật mà là trừu tượng hóa, thơ mộng hóa cảnh vật. "Bờ tiền sử", "nỗi niềm cổ tích xưa" là chữ của nhà văn bậc thầy ngôn ngữ này. Nhà văn không dựa vào trực giác để so sánh, ông đã dùng tưởng tượng để tạo nên những liên tưởng, những so sánh đầy chất thơ và rất kỳ thú, gieo vào tâm hồn người đọc bao cảm xúc, để cùng ông tận hưởng cái vẻ đẹp "hoang dại" và hồn nhiên"  của Đà giang. Đoạn trích khép lại bằng hình ảnh con sông Đà trong sự liên tưởng đến thơ Tản Đà  "Dải Đà bọt nước lênh bênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình" của một người tình nhân chưa quen biết càng làm cho hình ảnh dòng sông trở nên quyến rũ, có linh hồn, giàu sức hút. Áng văn sông Đà thơ mộng trữ tình tựa như một đoạn phim chuyển cảnh từ tĩnh qua động để rồi tĩnh lặng hơn. 

Quãng hạ nguồn với khúc sông êm đềm, trở thành dòng sông thi ca với cái nắng tháng ba Đường thi, với cái nắng giòn tan sau ki mưa dầm, với cả cái nắng rực rỡ đã chiếu rọi "xuyên tim" những người đọc tùy bút của Nguyễn Tuân. Người ta đã không thể nhìn ngắm hết cái vẻ đẹp trù phú của sông Đà đến thế nếu không được nhà văn mở đường đi tìm cái đẹp, dù cái đẹp ấy còn hoang sơ của đất trời Tây Bắc. 

Trên đây là toàn bộ bài viết của Luật Minh Khuê về phân tích vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của dòng sông Đà trong tác phẩm "Người lái đò sông Đà" của nhà văn Nguyễn Tuân. Hy vọng bài viết sẽ giúp ích cho quý độc giả!