1. Top các mẫu bài phân tích Người lái đò sông Đà chọn lọc hay nhất

Bài mẫu 1
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tài hoa, uyên bác bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tìm thấy cái đẹp ngay trong cuộc sống lao động bình dị của nhân dân. Tùy bút Người lái đò sông Đà là minh chứng tiêu biểu cho sự chuyển biến ấy. Qua tác phẩm, nhà văn đã khắc họa thành công hình tượng sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình và hình tượng người lái đò tài hoa, dũng cảm.

Trước hết, sông Đà hiện lên với vẻ đẹp hung bạo, dữ dội. Những vách đá dựng đứng, lòng sông hẹp như “yết hầu” khiến người đọc cảm nhận rõ sự hiểm trở. Mặt ghềnh Hát Loong với cảnh “nước xô đá, đá xô sóng” tạo nên một âm hưởng dữ dằn, liên hồi. Đặc biệt, những hút nước sâu hun hút cùng âm thanh thác gầm réo như muốn nuốt chửng con người đã làm nổi bật bản chất hung hiểm của dòng sông. Không chỉ vậy, sông Đà còn bày ra những “thạch trận” với cửa sinh, cửa tử như một thế lực có ý thức, luôn rình rập người lái đò.

Tuy nhiên, sông Đà không chỉ hung bạo mà còn mang vẻ đẹp trữ tình. Từ trên cao nhìn xuống, dòng sông mềm mại như một áng tóc dài giữa núi rừng. Màu nước thay đổi theo mùa, khi xanh trong như ngọc bích, khi đỏ đậm đầy sức sống. Không gian ven sông tĩnh lặng, hoang sơ, gợi cảm giác như trở về quá khứ xa xưa. Sông Đà vì thế vừa dữ dội vừa thơ mộng, vừa đáng sợ vừa đáng yêu.

Nổi bật trên nền thiên nhiên ấy là hình tượng người lái đò. Ông là một người lao động bình dị nhưng mang vẻ đẹp phi thường. Với kinh nghiệm dày dặn, ông thuộc lòng từng luồng nước, từng con thác. Trong cuộc vượt thác, ông thể hiện rõ bản lĩnh và tài năng. Trước những đợt tấn công dữ dội của sông Đà, ông vẫn bình tĩnh, mưu trí, điều khiển con thuyền vượt qua từng trùng vi thạch trận. Đặc biệt, ở trùng vi cuối cùng, con thuyền lao đi nhanh, chính xác như một mũi tên, thể hiện sự điêu luyện của “tay lái ra hoa”.

Sau tất cả, người lái đò trở về với cuộc sống giản dị, không hề tự hào về chiến công của mình. Chính điều đó làm nổi bật vẻ đẹp khiêm nhường và tâm hồn cao quý của người lao động.

Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, liên tưởng độc đáo và vốn tri thức uyên bác, Nguyễn Tuân đã tạo nên một áng văn đặc sắc. Người lái đò sông Đà không chỉ ca ngợi thiên nhiên Tây Bắc mà còn tôn vinh con người Việt Nam trong lao động, khẳng định vẻ đẹp bền vững của họ.

Bài mẫu 2
Người lái đò sông Đà là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm thể hiện rõ phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác của nhà văn, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên và con người lao động.

Hình tượng sông Đà được khắc họa với hai nét tính cách đối lập. Trước hết là sự hung bạo. Dòng sông hiện lên với những vách đá dựng đứng, những ghềnh thác dữ dội, những hút nước nguy hiểm. Âm thanh thác nước được miêu tả như tiếng gầm của thiên nhiên, tạo cảm giác dữ dội, ghê sợ. Sông Đà như một kẻ thù luôn tìm cách thử thách con người.

Bên cạnh đó, sông Đà lại rất trữ tình. Dòng sông mềm mại, uyển chuyển như một dải lụa. Cảnh vật hai bên bờ mang vẻ đẹp hoang sơ, tĩnh lặng. Những chi tiết ấy cho thấy cái nhìn tinh tế và tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Nguyễn Tuân.

Hình tượng người lái đò là điểm sáng của tác phẩm. Ông không chỉ có sức khỏe, kinh nghiệm mà còn có trí tuệ và sự dũng cảm. Trong cuộc vượt thác, ông luôn bình tĩnh, chủ động, nắm chắc quy luật của dòng sông. Ông điều khiển con thuyền một cách chính xác, linh hoạt, thể hiện sự tài hoa trong lao động.

Đặc biệt, sau khi vượt thác, ông trở lại cuộc sống bình thường, không coi chiến công là điều đáng kể. Điều đó cho thấy vẻ đẹp khiêm nhường, giản dị của người lao động.

Tác phẩm đã thể hiện cái nhìn mới mẻ của Nguyễn Tuân về con người sau cách mạng. Ông tìm thấy cái đẹp ngay trong những con người bình dị, góp phần làm phong phú thêm văn học Việt Nam hiện đại.

Bài mẫu 3
Trong nền văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân là nhà văn luôn khát khao tìm kiếm cái đẹp. Người lái đò sông Đà là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua tác phẩm, nhà văn đã xây dựng thành công hai hình tượng: sông Đà và người lái đò.

Sông Đà hiện lên trước hết với vẻ hung bạo. Những vách đá cao, lòng sông hẹp, những ghềnh thác dữ dội tạo nên một không gian đầy hiểm nguy. Âm thanh thác nước như tiếng gầm của thiên nhiên càng làm tăng thêm sự đáng sợ. Dòng sông như một thế lực đối đầu với con người.

Nhưng sông Đà cũng rất trữ tình. Dòng sông mềm mại, màu nước biến đổi, cảnh vật ven sông yên bình, thơ mộng. Điều đó cho thấy sự đa dạng, phong phú của thiên nhiên.

Người lái đò là hình tượng tiêu biểu cho con người lao động. Ông có kinh nghiệm, trí tuệ và lòng dũng cảm. Trong cuộc vượt thác, ông thể hiện sự bình tĩnh, mưu trí và tài hoa. Ông điều khiển con thuyền vượt qua mọi nguy hiểm một cách điêu luyện.

Không chỉ vậy, ông còn có tâm hồn giản dị, khiêm nhường. Sau cuộc vượt thác, ông trở lại cuộc sống bình thường, không hề tự hào về chiến công của mình.

Nguyễn Tuân đã sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều liên tưởng độc đáo, tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Người lái đò sông Đà là một áng văn đặc sắc, thể hiện tình yêu thiên nhiên và con người của nhà văn.

Bài mẫu 4 (nâng cao, có liên hệ)
Người lái đò sông Đà là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc mà còn tôn vinh con người lao động.

Sông Đà mang hai vẻ đẹp đối lập: hung bạo và trữ tình. Sự hung bạo thể hiện qua những ghềnh thác dữ dội, những hút nước nguy hiểm và âm thanh gầm réo. Sự trữ tình thể hiện qua vẻ mềm mại, màu nước biến đổi và cảnh sắc yên bình ven sông. Hai nét đẹp này hòa quyện, tạo nên một hình tượng độc đáo.

Người lái đò là hình ảnh tiêu biểu cho con người lao động Việt Nam. Ông không chỉ dũng cảm mà còn rất tài hoa. Trong cuộc vượt thác, ông thể hiện rõ sự mưu trí, linh hoạt và bản lĩnh. Ông đã chiến thắng thiên nhiên bằng trí tuệ và kinh nghiệm của mình.

Có thể liên hệ với hình tượng người lính trong Tây Tiến để thấy điểm chung là đều mang vẻ đẹp dũng cảm, kiên cường. Tuy nhiên, nếu người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa thì người lái đò lại mang vẻ đẹp của người lao động bình dị mà phi thường.

Tác phẩm thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: ngôn ngữ giàu hình ảnh, liên tưởng độc đáo, sử dụng nhiều tri thức đa ngành. Qua đó, nhà văn đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo văn học Việt Nam hiện đại.

Bài mẫu 5

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Trước năm 1945, ông ghi đậm dấu ấn trong lòng đọc giả với tập "Vang bóng một thời" và sau khi Cách mạng tháng Tám thành công ông vẫn có những tác phẩm mới mang những nét sáng tạo của chính mình. Nguyễn Tuân là một nhà văn yêu cái đẹp, ông luôn khám phá ra mọi góc cạnh của vẻ đẹp trên thế giới này. Con người và cảnh vật thiên nhiên khi vào văn chương của ông như hoá thành những công trình nghệ thuật độc đáo mà kì vĩ.

Tác phẩm "Người lái đò sông Đà" được rút ra từ tập tuỳ bút Sông Đà được ông sáng tác vào năm 1960. Tác phẩm này là kết quả của một chuyến đi đầy gian nan mà vô cùng hứng khởi của nhà văn về miền Tây Bắc đầy hiểm trở. Trong đoạn trích, hình ảnh con sông Đà hiện lên quanh co, uốn lượn dọc những triền núi. Sông Đà có những dòng nước chảy xiết cùng độ dốc lớn. Chính cái nét khác biệt ấy đã tạo nên cho nó một vả đẹp hoang sơ mà hùng vĩ. Bởi cái sự hung bạo nhưng trữ tình ấy, sông Đà lại làm bật lên vẻ đẹp tài hoa của người lái đò trên sông.

Ngay từ những câu mở đầu, nhà văn đã dẫn dắt độc giả cuốn theo cảm giác sợ hãi nhưng đê mê, vui thú với bức tranh một con sông Đà hung dữ, bạo tợn hiện lên. Điều ấy đã hiện rõ ngay trong những dòng miêu tả đầu tiên như "đá bờ sông dựng vách thành". Nhà văn đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ để miêu tả những vách đá nơi bờ sông ấy giống như những thành trì vững trãi, kiên cố, ẩn giấu trong đó biết bao nhiêu bí mật và sự nguy hiểm. Càng đọc, càng đắm chìm vào những dòng văn của ông thì độc giả lại càng ảm thấy thích thú với những cách ví von và dùng từ miêu tả về dòng sông Đà. Nhà văn đã dùng ngôn từ để vẽ ra con sông ấy, mặt sông thường "đúng ngọ" mới có mặt trời. Và khi đó thì các vách đá như "chẹt lòng sông như một cái yết hầu", rồi "có quãng tưởng như cn hươu, con nai nhảy từ bờ này qua bờ kia". Tác giả đã thể hiện những liên của mình tưởng chừng như vô ý, tưởng chừng như ngẫu nhiên hiện ra thế nhưng nó lại rất hợp lý, đấy là cái tài tình của ông. Ví như động từ "chẹt", nó giống như từ dùng trong ngôn ngữ văn nói thế nhưng khi đặt với hình ảnh "như một cái yết hầu" thì lại vô cùng ăn khớp và không có từ nào có thể thay thế được. Vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội của dòng Đà giang còn được thể hiện ở cái cảm giác thấy lạnh của nhà văn khi đi qua vào mùa hè. Cái cảm giác ấy vừa cho thấy không khí nơi đây, vừa tạo ra một khung cảnh đầy tráng lệ, hùng vĩ với các vách đá dựng đứng khiến con người cảm thấy nhỏ bé giữa thiên nhiên bao la.

Chính cái sự hung bạo của dòng sông Đà ấy đã làm nền để tôn vinh lên vẻ đẹp trữ tình và hình tượng của người lái đò. Cảnh hung bạo của dòng sông được khắc hoạ đậm nét ở mặt ghềnh Hát Lóong. Ông đã miêu tả dòng sông phải có đến hàng ngàn cây số là "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió". Chỉ một câu nhưng từ "xô" được lặp lại tới ba lần và một loạt từ với thanh sắc, điều này khiến độc giả cảm thấy cảm giác như sóng, gió và nước đang tạt thẳng vào người, mỗi lúc một cao, một mạnh và liên hồi hơn. Qua đây, chúng ta cảm nhận được rõ hơn bao giờ hết cái sức mạnh của thiên nhiên sao mà khủng khiếp, lạnh lùng đến vậy. Nó "gùn ghè", hầm hè y như những con thú hoang bạo tợn, đầy hung dữ. Nó đang giơ nanh vuốt như sẵn sàng thách thức với con người.

Vẻ đẹp hung bạo ấy còn được thể hiện ở nhưng cái "hút nước" khổng lồ ở quãng sông Tà Mường Vát. Dưới lăng kính của nhà văn Nguyễn Tuân, xoáy nước giống "như những cái giếng bê tông" được thả xuống làm móng cầu. Ở đây, ông dùng biện pháp nhân hoá, biến cái xoáy nước ấy  thành con người biết thở và biết kêu. Sự ví von như một cái cống bị sặc thật sinh động, hấp dẫn. Hình như chưa có một nhà văn nào lại có thể tưởng tượng và so sánh những hình tượng này với nhau một cách độc đáo như Nguyễn Tuân đã làm. Có thể nói nhờ ông mà dù nhiều người chưa từng được tận mắt nhìn thấy con sông Đà nhưng vẫn cảm nhận được ở khúc sông đó hiểm nguy đến nhường nào. Nó có thể nuốt chửng mọi thứ nên không có một con thuyền nào dám tới gần nếu như không muốn bị hút và dìm xuống dòng sông.

Đặc biệt ở nơi khúc thác sông Đà, cái vẻ dữ dội, đày hiểm ác ấy đã được tác giả vạch trần một cách rõ nét. Ông đã miêu tả bằng những âm thanh vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt như tiếng "réo gần mãi lên, réo to mãi lên". Ông nghe tiếng nước như có lúc đang "oán trách", có khi lại "van xin" hay lại đầy "khiêu khích". Có lúc nó lại rống lên như "một ngàn con trâu mộng" đang vật lộn trong lúc rừng cháy. Không những vậy, đá trên sông Đà như hợp lại thành "chân trời đá" mênh mông. Chúng mang nhiều dáng vẻ khác nhau như "ngỗ nghịh", "nhăn nhúm", "méo mó"... Tác giả đã dùng nhiều tính từ tả người để miêu tả khiến cho những hòn đá vô tri ấy trở nên có tâm hồn. Bởi thế mà độc giả cũng cảm nhận được sự bướng bỉnh, bất cần của đá. Đến đây chúng ta thấy được bằng trí tưởng tượng phong phú của mình thì tác giả đã biến sông Đà thành một "loài thuỷ quái khổng lồ" đầy độc ác, nguy hiểm.

Dòng sông Đà ấy không chỉ mang cái đẹp hùng vĩ, hung bạo và dữ dội mà nó còn mang trong mình vẻ đẹp trữ tình thơ mộng đầy dịu dàng, e ấp. Nét đẹp thuỳ mị như thiếu nữ mới lớn ấy được Nguyễn Tuân cảm nhận từ nhiều góc cạnh, điểm nhìn ở những không gian và thời gian khác nhau. Với ông, dòng sông Đà từ trên cao nhìn xuống uốn lượn như áng tóc mây của người con gái vùng Tây Bắc xinh đẹp, kiều diễm "tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân". Khi miêu tả, ông cũng không quên miêu tả chi tiết màu nước thay đổi theo từng mùa của dòng sông như mùa xuân dòng sông "xanh ngọc bích", mùa thu "lừ lừ chín đỏ". Không những thế trong trí tưởng của ông thì có lúc sông Đà nhẹ nhàng "như một cố nhâ". Ông còn thấy được dòng sông mang "màu nắng tháng ba Đường thi" với bờ sông đầy những chuồn chuồn và bươm bướm bay lượn. Tác giả đã không quên mô tả hai bên bờ sông như nhuộm màu cổ tích, miêu tả từ xa tới gần, từ khái quát đến chi tiết. Cả dòng Đà giang giờ đây còn mang trong mình những nỗi niềm hoài niệm xưa cũ.

Bên cạnh hình ảnh con sông Đà là hình ảnh nhân vật người lái đò. Nếu như thiên nhiên càng dữ dội bao nhiêu, càng bao la thì lại càng tôn lên vẻ đẹp tài hoa, đức độ và trí tuệ của người lái đò. Người lái đò ấy là đại diện cho những con người lao động chăm chỉ, cần cù, kiên trì mạnh mẽ và can đảm. Phẩm chất tốt đẹp của người lái đò ấy đã được khắc hoạ một cách rõ nét thông qua khung cảnh vượt thác sông Đà. Trước cái dòng sông đầy nguy hiểm ấy, người lái đò phải giữ sự tỉnh táo và vững tâm mới có thể vượt qua được ma trận với những vòng thách đấu với dòng sông. Trước cái "thạch trận" ấy, ông lái đò vẫn chẳng hề có sự nao núng. Ông vẫn "giữ lấy mái chèo cho khỏi bị hất lên". Mặc dù mặt nước có hò reo, hùa nhau để bẻ gãy cán thuyền còn sóng nước thì như những "quân liều mạng" lao vào "đá trái thúc gối vào bụng và hông thuyền". Mặc dù nước bám lấy như "đô vật" muốn vật ngửa ông ra, còn sóng thì như bóp chặt lấy hạ bộ ông đò. Và rồi dù có bị thương đến mức "mặt méo bệch đi" thì ông vẫn cương quyết không đầu hàng. Ông "cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt buồng lái" và chỉ huy chiếc thuyền băng băng vượt qua mọi "trùng vi thạch trận".

Qua truyện ngắn "Người lái đò sông Đà" tác giả đã xây dựng hình tượng của nhân vật người lái đò bằng nhiều nghệ thuật đặc sắc ở nhiều lĩnh vực như binh pháp, âm nhạc, võ thuật, thể thao... Đồng thời bằng các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, cùng câu văn ngắn gọn, súc tích đã khắc hoạ thành công nhân vật lái đò và dòng sông huyền thoại. "Người lái đò sông Đà" thực sự là một tác phẩm vô giá. Nó đã thôi thúc mọi độc giả sau khi đọc xong đều muốn xách ba lô lên và đi tới thám hiểm vùng Tây Bắc, để được thu trọn vào tầm mắt cái vẻ đẹp hùng vĩ, đầy bạo tàn nhưng lại trữ tình của dòng sông này. Đồng thời, chúng ta có thể cảm nhận được ông lái đò để thêm yêu, thêm hiểu những con người gan dạ nơi đây. 

 

2. Dàn ý bài phân tích Người lái đò sông Đà

Mở bài
Giới thiệu Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa, uyên bác, suốt đời đi tìm và tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống. Nêu khái quát về tùy bút Người lái đò sông Đà – kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của ông sau Cách mạng tháng Tám. Dẫn dắt vào hai hình tượng trung tâm của tác phẩm là sông Đà và người lái đò, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ và con người lao động tài hoa, dũng cảm.

Thân bài
Trước hết, phân tích hình tượng sông Đà như một sinh thể sống động, mang hai nét tính cách đối lập nhưng thống nhất. Ở phương diện hung bạo, sông Đà hiện lên với những vách đá dựng đứng, lòng sông hẹp và sâu, tạo cảm giác rợn ngợp. Những ghềnh thác dữ dội như Hát Loong với sự phối hợp của nước, đá, sóng, gió tạo nên âm thanh dồn dập, hiểm nguy. Các hút nước xoáy sâu, âm thanh thác gầm réo dữ dội càng làm nổi bật sự nham hiểm của dòng sông. Đặc biệt, hệ thống “thạch trận” với cửa sinh, cửa tử được bày binh bố trận như một thế lực có ý thức, luôn rình rập con người.

Bên cạnh đó, sông Đà còn mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng. Nhìn từ trên cao, dòng sông mềm mại như một áng tóc giữa núi rừng Tây Bắc. Màu nước biến đổi theo mùa, khi xanh trong, khi đỏ đậm, thể hiện sức sống và cá tính riêng biệt. Cảnh vật ven sông tĩnh lặng, hoang sơ, gợi cảm giác như trở về quá khứ xa xưa. Sông Đà hiện lên như một người bạn, một cố nhân gợi nhiều cảm xúc thân thuộc, ấm áp.

Tiếp theo, phân tích hình tượng người lái đò – biểu tượng cho vẻ đẹp của con người lao động. Trước hết là ngoại hình và kinh nghiệm gắn bó với nghề: thân hình rắn rỏi, dấu ấn thời gian in đậm trên cơ thể, trí nhớ và sự am hiểu tường tận về con sông. Ông lái đò thuộc lòng từng luồng nước, từng con thác, nắm chắc quy luật của “thần sông thần đá”.

Nổi bật nhất là vẻ đẹp trí dũng và tài hoa trong cuộc vượt thác. Ở trùng vi thứ nhất, ông bình tĩnh, gan góc, nén đau để chỉ huy con thuyền vượt qua vòng vây. Sang trùng vi thứ hai, ông linh hoạt thay đổi chiến thuật, chủ động tấn công, vượt qua những cửa tử nguy hiểm. Đến trùng vi thứ ba, ông đạt đến độ điêu luyện, điều khiển con thuyền chính xác, nhanh gọn như một nghệ sĩ thực thụ. Qua đó, người lái đò hiện lên vừa dũng cảm, mưu trí vừa tài hoa.

Không chỉ vậy, ông còn mang vẻ đẹp tâm hồn đáng quý. Sau cuộc vượt thác đầy hiểm nguy, ông trở lại cuộc sống bình dị với phong thái ung dung, khiêm nhường. Ông không coi chiến công là điều lớn lao mà xem đó như công việc thường ngày, qua đó thể hiện cốt cách giản dị nhưng cao đẹp của người lao động.

Cuối cùng, khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Tuân thể hiện phong cách uyên bác khi vận dụng tri thức nhiều lĩnh vực như địa lý, quân sự, điện ảnh, hội họa để miêu tả. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, sáng tạo, nhiều liên tưởng độc đáo; nhịp điệu câu văn linh hoạt, khi dồn dập mạnh mẽ, khi êm đềm sâu lắng. Tác phẩm còn thể hiện cái nhìn mới mẻ của nhà văn sau cách mạng, hướng về con người lao động và cuộc sống hiện thực.

Kết bài
Khẳng định Người lái đò sông Đà là một tùy bút đặc sắc, kết tinh tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ca ngợi vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên mà còn tôn vinh con người lao động với phẩm chất dũng cảm, tài hoa. Qua đó, nhà văn thể hiện tình yêu sâu sắc đối với đất nước và niềm tự hào về con người Việt Nam, góp phần làm giàu thêm giá trị của văn học hiện đại.