- 1. Trong trường hợp nào công chức sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc
- 2. Đảng viên sẽ bị xử lý kỷ luật Đảng với hình thức là khai trừ Đảng trong trường hợp nào?
- 3. Cán bộ, công chức bị khai trừ khỏi Đảng có bị buộc thôi việc?
- 4. Xử lý kỷ luật công chức được quy định theo những nguyên tắc nào?
1. Trong trường hợp nào công chức sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc
Theo quy định tại Điều 13 của Nghị định 112/2020/NĐ-CP, có nhiều trường hợp mà hình thức kỷ luật buộc thôi việc được áp dụng đối với công chức. Các trường hợp công chức sẽ bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc bao gồm những trường hợp sau:
- Trường hợp đầu tiên là khi công chức đã từng bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cách chức. Trong trường hợp này, nếu công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, hoặc bị hạ bậc lương, và tái phạm, hình thức kỷ luật buộc thôi việc có thể được áp dụng.
- Trường hợp thứ hai là khi công chức có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Điều này được quy định tại Điều 8 của Nghị định trên. Hành vi vi phạm này phải gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và là lần đầu tiên công chức vi phạm. Trong trường hợp này, hình thức kỷ luật buộc thôi việc cũng có thể được áp dụng.
- Trường hợp thứ ba là khi công chức sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả hoặc không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị. Điều này đề cập đến việc công chức lừa dối và sử dụng tài liệu giả mạo để có được công việc. Trong trường hợp này, hình thức kỷ luật buộc thôi việc cũng có thể được áp dụng.
- Trường hợp thứ tư là khi công chức có vấn đề về nghiện ma túy. Tuyệt đối cần có kết luận từ cơ sở y tế hoặc thông báo từ cơ quan có thẩm quyền để xác định công chức có nghiện ma túy hay không. Nếu công chức bị phát hiện nghiện ma túy, hình thức kỷ luật buộc thôi việc có thể được áp dụng.
- Ngoài những trường hợp đã được nêu ở trên, hình thức kỷ luật buộc thôi việc còn có thể áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm lần đầu, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Điều này được quy định tại khoản 3 của Điều 9 trong Nghị định 112/2020/NĐ-CP.
Như vậy, Nghị định 112/2020/NĐ-CP quy định nhiều trường hợp mà hình thức kỷ luật buộc thôi việc có thể được áp dụng đối với công chức, bao gồm các trường hợp đã được đề cập trên. Các quy định này nhằm đảm bảo tính kỷ luật và trách nhiệm của công chức, đồng thời tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp và đúng luật.
2. Đảng viên sẽ bị xử lý kỷ luật Đảng với hình thức là khai trừ Đảng trong trường hợp nào?
Theo quy định tại khoản 9 của Điều 2 trong Quy định 69-QĐ/TW năm 2022, ban hành ngày 06 tháng 07 năm 2022 về nguyên tắc xử lý kỷ luật đảng viên, có quy định rõ về việc xử lý kỷ luật đảng viên trong trường hợp vi phạm pháp luật.
Điều này cho biết rằng đảng viên vi phạm pháp luật sẽ phải chịu xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, nếu vi phạm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, bị truy nã hoặc bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, đảng viên đó sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng. Tuy nhiên, nếu hình phạt nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ, thì hình thức kỷ luật đảng viên sẽ được thi hành tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ hậu quả, nguyên nhân vi phạm và các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.
Điều quan trọng cần lưu ý là trong trường hợp đảng viên làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân, cần xem xét trách nhiệm và bồi thường. Điều này nhằm đảm bảo rằng đảng viên phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm và phải đền bù thiệt hại gây ra.
Tóm lại, theo Quy định 69-QĐ/TW năm 2022, đảng viên có thể bị xử lý kỷ luật Đảng bằng hình thức khai trừ Đảng trong trường hợp vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, bị truy nã hoặc bị toà án tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên. Trường hợp vi phạm nhẹ hơn sẽ được xem xét để thi hành kỷ luật đảng tương xứng. Bên cạnh đó, đảng viên còn phải chịu trách nhiệm và bồi thường trong trường hợp làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân.
3. Cán bộ, công chức bị khai trừ khỏi Đảng có bị buộc thôi việc?
Trong Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, tại Khoản 6, Điều 2, có quy định rằng "Trường hợp cán bộ, công chức đã bị xử lý kỷ luật đảng thì hình thức kỷ luật hành chính phải bảo đảm ở mức độ tương xứng với kỷ luật Đảng". Tuy nhiên, khái niệm "bảo đảm ở mức độ tương xứng" giữa kỷ luật hành chính và kỷ luật Đảng chưa có tiêu chuẩn cụ thể. Điều này có nghĩa là hiện tại, pháp luật không cung cấp giải thích hoặc hướng dẫn chi tiết để giúp các cơ quan có thẩm quyền xác định yếu tố "tương xứng" giữa hai hình thức kỷ luật này.
Hiện nay, theo Quy định số 102-QĐ/TW, đảng viên chính thức khi vi phạm sẽ bị áp dụng một trong bốn hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức và khai trừ ra khỏi Đảng. Đối với kỷ luật hành chính theo Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, có tổng cộng bốn hình thức kỷ luật đối với cán bộ (khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm), bốn hình thức kỷ luật đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc), và năm hình thức kỷ luật đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (khiển trách, cảnh cáo, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc).
Do đó, hiện nay, có nhiều cách áp dụng khác nhau về vấn đề này. Một ý kiến cho rằng, hình thức "khiển trách" trong kỷ luật Đảng tương xứng với hình thức kỷ luật hành chính "khiển trách" đối với cán bộ, công chức. Tương tự, hình thức "cảnh cáo" trong kỷ luật Đảng tương xứng với hình thức kỷ luật hành chính "cảnh cáo" đối với cán bộ, công chức. Đối với hình thức "cách chức" trong kỷ luật Đảng, nó sẽ tương xứng với hình thức kỷ luật hành chính "cách chức" đối với cán bộ, công chức. Tuy nhiên, hình thức "khai trừ ra khỏi Đảng" trong kỷ luật Đảng tương xứng với hình thức kỷ luật hành chính "bãi nhiệm" đối với cán bộ và "buộc thôi việc" đối với công chức. Do đó, hình thức kỷ luật "giáng chức" đối với công chức không thể áp dụng nếu căn cứ vào nguyên tắc "bảo đảm ở mức độ tương xứng" giữa kỷ luật hành chính và kỷ luật Đảng, vì không có hình thức kỷ luluật Đảng nào tương xứng với hình thức kỷ luật giáng chức.
4. Xử lý kỷ luật công chức được quy định theo những nguyên tắc nào?
Căn cứ vào Nghị định 112/2020/NĐ-CP, việc xử lý kỷ luật công chức phải tuân theo một số nguyên tắc quan trọng.
Đầu tiên, việc xử lý phải tuân thủ các nguyên tắc khách quan, công bằng, công khai, minh bạch và nghiêm minh, đúng theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, mỗi hành vi vi phạm chỉ được xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trong trường hợp cán bộ, công chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên trong cùng một thời điểm, thì sẽ áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng cho hành vi vi phạm nặng nhất. Tuy nhiên, trừ trường hợp bị xử lý kỷ luật bằng hình thức bãi nhiệm hoặc buộc thôi việc, không tách riêng từng nội dung vi phạm của cán bộ, công chức để xử lý kỷ luật nhiều lần với các hình thức khác nhau.
Thứ ba, nếu trong quá trình thi hành quyết định kỷ luật, cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục vi phạm, sẽ áp dụng hình thức kỷ luật như sau: nếu vi phạm mới là nhẹ hơn hoặc bằng so với vi phạm đang bị xử lý, thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức đang thi hành; nếu vi phạm mới là nặng hơn so với vi phạm đang bị xử lý, thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức áp dụng cho vi phạm mới đó.
Thứ tư, khi xem xét xử lý kỷ luật, cần căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, cũng như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu và sửa chữa, công việc khắc phục khuyết điểm, vi phạm và hậu quả gây ra.
Thứ năm, không được áp dụng hình thức xử phạt hành chính hoặc hình thức kỷ luật đảng thay cho hình thức kỷ luật hành chính. Xử lý kỷ luật hành chính cũng không thay thế cho truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ khi hành vi vi phạm đã đạt mức bị xử lý hình sự.
Cuối cùng, đối với cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật đảng, hình thức kỷ luật hành chính phải đảm bảo ở mức độ tương xứng với kỷ luật đảng. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải xem xét và quyết định việc xử lý kỷ luật hành chính.
Ngoài ra, Nghị định cũng cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, tinh thần, danh dự, nhân phẩm trong quá trình xử lý kỷ luật. Đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm lần đầu và đã bị xử lý kỷ luật, nếu trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực, họ lại có cùng hành vi vi phạm, thì sẽ bị coi là tái phạm. Nếu hành vi vi phạm xảy ra sau thời hạn 24 tháng, tuy được xem như vi phạm lần đầu, nhưng sẽ được xem là tình tiết tăng nặng khi xem xét xử lý kỷ luật.
Từ đó, ta thấy rằng việc xử lý kỷ luật công chức phải tuân theo các nguyên tắc được nêu trên. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong việc quản lý và kỷ luật các cán bộ, công chức, viên chức, từ đó đảm bảo hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả.
Xem thêm >> Công chức địa chính xã là gì? Nhiệm vụ của công chức địa chính cấp xã?
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề trên. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ qua số Tổng đài 19006162 hoặc liên hệ qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin trân trọng cảm ơn!