1. Đảng viên đánh người bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư cho tôi hỏi chú tôi là Đảng viên, đợt vừa rồi, chú tôi có gây gổ đánh nhau với chị A do quá tức giận vì việc chị ấy đổ rác không đúng nơi quy định, tôi thấy có nhiều người bảo có quy định mới thay thế quy định 181 trước đó, không biết là ở quy định mới này, chú tôi có bị xử lý gì không? hay có bị cách chức hay khai trừ khỏi Đảng gì không?
Mong Luật sư tư vấn cho tôi. Cám ơn Luật sư.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

- Thứ nhất là về thời hiệu xử lý kỷ luật

Căn cứ theo Điều 3 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành có quy định cụ thể như sau:
Điều 3. Thời hiệu xử lý kỷ luật
1- Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật.
a) Thời hiệu xử lý kỷ luật đảng được quy định như sau:
- 5 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khiển trách.
- 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.
b) Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a Khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới.
2- Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; vi phạm về chính trị nội bộ; về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.
Theo quy định trên có nghĩa là tại thời điểm này vẫn còn thời hiệu xử lý kỷ luật

- Thứ hai là những trường hợp nào thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật:

Căn cứ theo Điều 5 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành có quy định cụ thể như sau
Điều 5. Các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật
1- Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật.
2- Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng.
Khoản này được hướng dẫn bởi Hướng dẫn 04-HD/UBKTTW năm 2018
- Căn cứ Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm:
Ủy ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn thực hiện một số Điều trong Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị như sau: ...
Điều 5. Các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật
* Khoản 1, Điều 5
“Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật”.
- “Bệnh hiểm nghèo” là bệnh nguy hiểm đến tính mạng của người bị mắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật nêu trên không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng.
Ví dụ: Đảng viên A vi phạm cách đây 4 năm, khi tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kỷ luật về Đảng thì đồng chí bị ốm phải điều trị nội trú ở bệnh viện thì thời gian điều trị này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.

- Thứ ba là Đảng viên đánh nhau sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định mới:

Căn cứ theo Điều 33 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành có quy định cụ thể như sau:
Điều 33. Vi phạm về đạo đức, nếp sống văn minh
1- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
a) Tổ chức việc cưới, việc tang, các ngày lễ, tết, sinh nhật, mừng thọ, kỷ niệm ngày cưới, mừng nhà mới, lên chức, chuyển công tác xa hoa, lãng phí hoặc trái quy định.
b) Vi phạm các quy định về cấm uống rượu, bia làm ảnh hưởng đến tư cách đảng viên.
c) Có hành vi quấy rối tình dục dưới mọi hình thức.
d) Quậy phá, gây go, đánh nhau hoặc có hành vi thiếu văn hóa làm mất an ninh, trật tự công cộng.
2- Trường hợp vi phạm đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
a) Tổ chức việc cưới, việc tang với quy mô lớn, kéo dài nhiều ngày; tổ chức giỗ, sinh nhật, mừng thọ, lên chức, mừng nhà mới với quy mô lớn gây phản cảm hoặc gây dư luận bức xúc trong nhân dân, bị xã hội lên án.
b) Thiếu trách nhiệm hoặc vì động cơ cá nhân mà dung túng hoặc kích động người khác vi phạm pháp luật.
3- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:
a) Là lãnh đạo, chỉ huy nhưng có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc dùng nhục hình đối với cán bộ, chiến sĩ, nhân viên dưới quyền.
b) Là cấp dưới nhưng có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự hoặc hành hung cán bộ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy và đồng nghiệp.
Như vậy có nghĩa lầ nó chia làm ba trường hợp cụ thể nư trên, đồng thời, cùng với đó, theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành cũng có quy định cụ thể về Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng, Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể như sau:
Điều 6. Giải thích từ ngữ
…..
5- Hậu quả do hành vi vi phạm của đảng viên gây ra:
a) "Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại không lớn, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.
b) "Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại lớn, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm uy tín của bản thân và tổ chức đảng, Cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.
c) "Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại rất lớn, gây dư luận xấu, rất bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên sinh hoạt, công tác.
d) "Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại đặc biệt lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng, gây phẫn nộ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất tư cách của đảng viên và vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Mang vũ khí nào để tự vệ thì không vi phạm pháp luật ? Mang vũ khí bị xử phạt như thế nào ?

2. Tư vấn về việc hàng xóm vào nhà gây rối, vu khống đánh người ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Ông A say rượu và vào nhà tôi chửi bới hăm doạ và đập phá tài sản nhà tôi làm vỡ ấm chén và miếng kính mặt bàn trị giá trên 500 nghìn đồng. Và trong lúc đập phá ông A do say rượu và đứng không vững nên ngã và có bị thương một chút ở đuôi lông mày trái vết thương chỉ bằng cái đầu đũa và chảy máu.

Trong lúc xảy ra sự việc ấy thì bố tôi có can ngăn ông A và kéo áo ông A lôi ra ngoài đường không cho ở trong nhà tôi. Và đến bây giờ thì ông A lại vu khống cho bố tôi là đánh ông A ngay trong nhà tôi.

Vì vậy gia đình tôi có phải đền bù thiệt hại cho ông A và ông A và pháp luật sẽ giải quyết như thế nào về trường hợp này ạ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.B

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

- Thứ nhất, về việc ông A đập phá đồ đạc của nhà bạn:

Hành vi đập phá tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, tùy theo mức độ hư hỏng tài sản mà sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ 2 triệu đồng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999.

Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Nếu hành vi hủy hoại tài sản đó chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ hai triệu đồng đến năm triệu đồng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 Nghi định 167/2013/NĐ – CP quy định xử phạt hành chính; phòng, chống bạo lực gia đình.

Bên canh đó ông A sẽ có nghĩa vụ bồi thường cho bạn số tài sản bị hư hỏng căn cứ theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

- Thứ hai, về hành vi gia đình bạn can ngăn ông A

Trong lúc ông A chửi bới và đập phá đồ đạc của gia đình bạn thì bố bạn có can ngăn ông A và kéo áo ông A lôi ra ngoài đường không cho ở trong nhà bạn. Đây là hành vi chống trả một cách cần thiết với ông A là người đang có hành vi xâm phạm đến danh dự và tài sản người khác.

Điều 15 Bộ luật Hình sự 1999 có quy định về vấn đề Phòng vệ chính đáng, cụ thể như sau:

“1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Việc phòng vệ chính đáng nói trên phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Hành vi tấn công của người có hành vi vi phạm phải là đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của công dân.

- Người phòng vệ có sự chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi tấn công ngay cả những trường hợp có biện pháp khác tránh được sự tấn công (sự chống trả này phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công đặt trong hoàn cảnh cụ thể ).

Thứ ba, Về việc vu khống gia đình bạn:

Điều 122 Bộ luật hình sự quy định về hành vi vu khống như sau:

" Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Do vậy hành vi của bố bạn là sự phòng vệ chính đáng để bảo vệ quyền lợi của chính gia đình mình, không bị coi vi phạm pháp luật. Hơn nữa, trước lúc bố bạn can ngăn ông A thì ông A tự ngã do say rượu không đứng vững nên không có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của bố bạn và việc ông A bị thương. Từ các căn cứ trên, gia đình bạn sẽ không có nghĩa vụ bồi thường cho ông A. Thêm váo đó, Hành vi vu khống của ông A có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Hy vọng bạn sẽ sớm giải quyết được vấn đề! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ba nguyên nhân dẫn đến ghen tuông mù quáng trong tình yêu ? Đánh ghen có phạm pháp ?

3. Tư vấn viết giấy cam kết buộc bên đánh người phải chịu trách nhiệm về sau ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình tôi có con bị đánh đã phải nhập viện và người đánh đã xin lỗi và bồi thường. Nhưng chúng tôi muốn bên kia phải viết một cái giấy cam kết với nội dung Chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu sau này xảy ra thương tật , biến chứng đối với con tôi thì phải viết như thế nào ạ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: H.P

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật thì không có quy định nào về việc viết giấy cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu sau này xảy ra thương tật, biến chứng. Việc hai bên thực hiện thỏa thuận sẽ dựa trên pháp luật có quy định về về việc bồi thường thiệt hại. Điều 605 Luật dân sự 2005 quy định như sau:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Như vậy, gia đình bạn và bên gây thương tích cho con bạn có thể thỏa thuận về về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường trong biên bản thỏa thuận về việc bồi thường. Để rõ hơn về các khoản tiền mà bên gây thương tích phải bồi thường cho gia đình bạn, bạn có thể tham khảo Nghị quyết số 03/2006/NQQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:

"1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:

Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.

Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.

Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.

Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.

Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

Như vậy, bạn có thể thỏa thuận với người đã gây thương tích cho con bạn theo các quy định trên. Và việc thỏa thuận này phải không vi phạm các quy định pháp luật và đạo đức xã hội.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.0159. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Phải làm thế nào khi bố đánh đập mẹ ? Xử lý hành vi bạo lực gia đình như thế nào ?

4. Đánh người vô cớ thì xử lý như thế nào ?

Xin chào luật sư,em có câu hỏi xin được tư vấn: Trong 1 lần mình về dưới quê của 1 người bạn gái để lấy thông tin về vụ việc bạo lực gia đình viết bài cho báo. Ngày hôm đó đi về mình rất mệt mỏi vì gặp mưa lớn, về đến nhà thì mình chỉ nói một câu trong công việc như sau: "đi mất 1 ngày tốn mấy trăm mà không được gì" câu nói này bị người bạn mang đi nói cho người nhà gia đình của người bạn gái mà mình đi xuống lấy thông tin.

Rồi người chị 2 của người bạn gái mình đi về cùng này khi được nghe người bạn nói rằng mình nói câu đó và rồi trong 1 lần bạn bè đi hát người chị 2 này thấy mình ngồi trong phòng hát cùng với mấy người bạn nữa....đã lao vào đánh mình. Và áp đặt cho mình cái tội bữa nọ đi về dưới quê không phải viết bài mà đi làm việc đó chỉ để tiếp cận và chiếm đoạt, lợi dụng em gái của họ.

Vậy mình xin được hỏi nếu việc đánh mình vô cớ mà chưa hỏi hay chưa nghe giải thích và hạ thấp nhân phẩm, tư cách của mình như vậy thì sẽ bị xử lý như thế nào? Vì mình đã hẹn gặp riêng để nói, trình bày nhưng người ta không chấp nhận và luôn coi mình dơ bẩn theo cái suy nghĩ của bà chị 2 đó. Điều kiện mình muốn được giải quyết: mình muốn người chị đó phải nhận xin lỗi mình trước toàn thể bạn bè có mặt trong buổi đi hát đó và toàn bộ mọi người trong công ty nơi mình đang làm có được tòa án chấp thuận không ạ!

Xin cám ơn!

Người gửi: N.V.T

Đánh người vô cớ và xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác thì xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời

Trong trường hợp của bạn, hiện tại bạn hãy báo với công an xã về hành vi của họ. Công an xã sẽ đến can thiệp để giải quyết tình trạng trên.

Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình , phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi:

Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”.

Đồng thời, công an xã sẽ buộc họ phải chấm dứt hành vi của mình. Bạn có thể yêu cầu người đó xin lỗi bạn trước mặt bạn bè của bạn và mọi người trong công ty bạn vì đã xúc phạm bạn theo quy đinh tại điều 25 của Bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 25. Bảo vệ quyền nhân thân

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

Trường hợp của bạn nếu bạn yêu cầu xin lỗi công khai mà người có hành vi không thực hiện thì bạn có thể khởi kiện ra Toàn án về những hành vi trên để yêu cầu Toà án giải quyết về việc bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần, danh dự, nhân phẩm theo quy định của BLDS.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.0159 để được tư vấn, hỗ trợ trực tiếp.

>> Xem thêm:  Nên làm gì khi bị người khác đánh đập ? Bố mẹ đánh con có bị xử phạt không ?

5. Uống rượu say rồi đánh người sẽ bị xử lý như thế nào ?

Chào Luật sư! Em xin hỏi Luật sư một vụ việc như sau được không ạ? Nhân dịp cuối năm, chào đón năm mới, đón tết, nhóm bạn em tổ chức đi ăn uống. Trong quá trình ăn uống có uống rượu bia, nhiều bạn đã say. Trong khi say thì có hai người có anh A và anh Bbất đồng quan điểm và cãi nhau, mặc dù được mọi người can ngăn nhưng hai bạn đó vẫn không dừng lại. Đột nhiên anh A cầm lấy chai bia đang uống đập vào đầu anh B.
Hai bên lao vào đánh nhau, mọi người can ngăn và lôi được hai người ra ngoài. Anh B bị đánh thì chảy máu ở đầu rất nhiều và phải đi bệnh viện khẩu 3 múi. Sáng hôm sau khi tỉnh rượu, anh A đã đến thăm, xin lỗi và bồi thường. Vậy Luật sư cho em hỏi nếu anh B khởi kiện thì sẽ bị xử lý như thế nào?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về hành vi đánh người, gọi:1900.0159

Luật sư tư vấn:

- Trường hợp này của bạn do bạn không nói rõ là bạn của bạn (anh B) bị tỷ lệ thương tích là bao nhiêu, nên rất khó để xác định hành vi này sẽ bị xử lý với mức xử phạt như thế nào. Nhưng hành vi anh A dùng chai bia đánh vào đầu anh B khiến anh B chảy máu thì đã vi phạm điều 134, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác, vì chai bia được coi là hung khí nguy hiểm:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

- Tuỳ vào tỷ lệ thương tích của của nạn nhân để xác minh khung hình phạt về tội cố ý gây thương tích. Đối với trường hợp này của anh A dùng chai bia đánh vào đầu anh B thương tích dù không thật sự lớn nhưng vẫn đủ yêu tố cấu thành hình sự. Hành vi trên có thể vi phạm điểm a, khoản 1, điều 134, luật này. Thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, vì chai bia cũng là hung khí nguy hiểm.

>> Tham khảo bài viết sau đây: Cố ý gây thương tích sẽ bị xử phạt như thế nào theo Luật hình sự mới

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Đánh trúng mắt người thương tật 15% thì phạm tội gì ? Hành hung người khác bị phạt thế nào ?