1. Căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự ?

Chào luật sư, Chú tôi có chạy xe tải gây tai nạn chết người. Về phía người bị nạn thì đã viết đơn bãi nại. Và chúng tôi muốn gia đình bị nạn viết đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho chú tôi thì đơn có phải có xác nhận của chính quyền địa phương không ạ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi yêu cầu tư vấn tới bộ phận tư vấn luật của chúng tôi. Nội dung câu hỏi của bạn được chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Về vấn đề tội phạm theo quy định của Bộ Luật hình sự:

Như thông tin bạn cung cấp, chú bạn chạy xe tải vi phạm quy định về tham gia giao thông và gây chết người, theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, hành vi của chú bạn cấu thành tội phạm tại Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Theo đó, mức hình phạt cho hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây chết người là phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu thuộc các trường hợp tại các khoản 2, 3 Điều này thì mức hình phạt sẽ cao hơn.

Về vấn đề đơn bãi nại của người bị hại:

Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015, trường hợp người bị hại rút đơn yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ đối với những vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 266 của Bộ Luật hình sự. Vì đây là các tội phạm mà theo quy định chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại, nên trường hợp người bị hại đã rút đơn yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ.

Như vậy, theo như phân tích ở trên, chú của bạn phạm tội quy định tại Điều 260, không thuộc các trường hợp khởi kiện vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, do đó trường hợp người bị hại có làm đơn bãi nại như bạn nói thì cơ quan tố tụng vẫn quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của chú bạn khi có đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.

Về vấn đề miễn trách nhiệm hình sự:

Theo quy định tại Điều 29 Bộ Luật hình sự, căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự như sau:

" 1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự."

Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 29, trường hợp gia đình người bị hại và người phạm tội tự nguyện hòa giải được đồng thời đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Pháp luật chỉ quy định là " có thể " được miễn, nghĩa là không mặc nhiên có đơn của gia đình người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Ngoài ra để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản này, thì người phạm tội phải có các điều kiện như sau:

- Tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải là tội phạm ít nghiêm trọng;

- Hoặc là tội phạm nghiêm trọng do vô ý;

- Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.

Theo đó, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông gây chết người là do lỗi vô ý theo quy định tại Điều 11 Bộ Luật hình sự, cụ thể:

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Do đó, nếu chú bạn phạm tội thuộc khoản 1 điều 260 thì đó là phạm tôi nghiêm trọng do vô ý, trong trường hợp này chú bạn có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 điều 29 ở trên. Còn trường hợp hành vi của chú bạn cấu thành tội phạm quy định tại các khoản 2, 3 ( tội phạm rất nghiêm trọng) Điều 260 Bộ luật hình sự thì nếu gia đình người bị hại có làm đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho chú bạn thì chú bạn cũng vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

Theo đó, tại quy định điểm b Khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 SĐBS 2017 có quy định về tội phạm nghiêm trọng:

Điều 9. Phân loại tội phạm

1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

....

Đối với thắc mắc về đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự của gia đình người bị hại, thì theo quy định của pháp luật không bắt buộc trong đơn phải có xác nhận của chính quyền địa phương. Đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự chỉ cần đảm bảo thể hiện được nội dung mong muốn của người làm đơn trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện và có xác nhận của người làm đơn ( chữ ký), nếu trường hợp nhiều người cùng làm một đơn thì thể hiện sự xác nhận của tất cả những người đó trong đơn.

>> Xem thêm:  Cá độ game có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

2. Miễn trách nhiệm hình sự có phải là không phạm tội ?

Thưa luật sư, “Xin cho biết miễn trách nhiệm hình sự có phải là không phạm tội không? Miễn trách nhiệm hình sự khác với đình chỉ vụ án như thế nào?” (Vũ Lân, tỉnh Thái Bình)

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) là việc miễn truy cứu TNHS cho người phạm tội “nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”.

Miễn TNHS còn được áp dụng đối với “trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm” hoặc “khi có quyết định đại xá”.

Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy him cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,9 người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng10 gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả11 và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp12 của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Như vậy, người được miễn TNHS là người có hành vi phạm tội nhưng được miễn truy cứu TNHS trong những trường hợp nhất định chứ không phải người không phạm tội. Việc miễn TNHS có thể do cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án áp dụng (tùy theo từng giai đoạn của vụ án).

Ngược lại với trường hợp miễn TNHS, theo quy định tại Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì “đình chỉ vụ án” là một biện pháp tố tụng, do Viện kiểm sát áp dụng “khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự."

Điều 248. Đình chỉ vụ án

1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.

2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.

Như vậy, người được đình chỉ vụ án có thể là người không phạm tội (không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm) hoặc cũng có thể là người có hành vi phạm tội nhưng vì những lý do khách quan nhất định (như chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự…) mà được đình chỉ các biện pháp tố tụng đối với hành vi mà họ đã thực hiện.

>> Xem thêm:  Cafe trộn pin có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật hình sự mới ?

3. Khi nào được miễn trách nhiệm hình sự ?

Theo quy định tại Điều 29 BLHS 2015 SĐBS 2017 thì người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có căn cứ pháp lý sau:

Thứ nhất, Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

- Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

- Khi có quyết định đại xá.

Thứ hai, Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy him cho xã hội nữa;

- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

- Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác,9 người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Thứ ba, Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng10 gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả11 và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp12 của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

4. Tự ý nữa chừng chấm dứt hành vi phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự?

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Căn cứ theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Trong trường hợp hành vi người đó thực hiện có đủ yếu tố để cấu thành một tội phạm khác thì người này phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó.

Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

5. Miễn hình phạt có phải là được miễn trách nhiệm hình sự không?

Miễn hình phạt là trường hợp người phạm tội thuộc trương hợp quy định tại khoản 1 Điều 54 "Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này" và khoản 2 Điều 54 "Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể" của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 mà đáng được khoan hồng đặc biệt. Trường hợp miễn hình phạt là trường hợp chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự. Điều này được các nhà lập pháp cụ thể hóa tại Điều 59 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 59. Miễn hình phạt

Người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 54 của Bộ luật này mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn thì xử lý như thế nào?