Trong chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam, bên cạnh việc xử lý nghiêm minh người phạm tội để bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa, pháp luật còn đề cao các biện pháp mang tính khoan hồng, nhân đạo. Mục đích của chính sách này là khuyến khích người phạm tội tự giác sửa chữa sai lầm, tạo cơ hội tái hòa nhập xã hội và tiết kiệm chi phí tố tụng cho Nhà nước.

Một trong những biểu hiện quan trọng của chính sách khoan hồng chính là chế định miễn trách nhiệm hình sự (miễn TNHS), được quy định cụ thể tại Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - BLHS 2017.

1. Khái quát chung về miễn trách nhiệm hình sự

Theo khoa học luật hình sự, miễn trách nhiệm hình sự  là việc một người đã thực hiện hành vi thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, tức là hành vi đó về mặt pháp lý được coi là tội phạm, nhưng khi có đủ căn cứ luật định thì người đó không phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự.

Điều quan trọng cần nhấn mạnh: miễn trách nhiệm hình sự không có nghĩa là oan, sai. Người được miễn TNHS vẫn bị coi là đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng vì lý do chính sách, nhân đạo hoặc điều kiện khách quan mà Nhà nước quyết định không buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự.

Chế định miễn trách nhiệm hình sự mang nhiều ý nghĩa quan trọng:

  • Thể hiện tính nhân đạo của pháp luật: người phạm tội được khoan hồng khi có những điều kiện khách quan hoặc chủ quan đặc biệt.
  • Tiết kiệm chi phí tố tụng và xã hội: tránh kéo dài các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử trong khi người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội.
  • Khuyến khích người phạm tội tự giác hợp tác: đặc biệt trong trường hợp tự thú, khai báo thành khẩn, lập công hoặc khắc phục hậu quả.
  • Tạo điều kiện tái hòa nhập xã hội: người phạm tội sớm có cơ hội quay trở lại đời sống bình thường mà không mang án tích.

Căn cứ pháp lý trực tiếp của chế định miễn trách nhiệm hình sự là Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Điều luật này quy định rõ ràng:

  • Các trường hợp bắt buộc miễn trách nhiệm hình sự (Khoản 1).
  • Các trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự (Khoản 2, Khoản 3).

Ngoài ra, các quy định về thẩm quyền đình chỉ điều tra, truy tố, xét xử tại Bộ luật Tố tụng hình sự cũng là cơ sở quan trọng để áp dụng chế định này trong thực tiễn.

2. Các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với cá nhân

Theo Điều 29 BLHS 2017, miễn trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có thể chia thành hai nhóm căn cứ: 

  • Miễn TNHS bắt buộc: Khi có sự thay đổi chính sách, pháp luật hoặc khi có quyết định đại xá → cơ quan tố tụng phải miễn.
  • Miễn TNHS tùy nghi: Khi có chuyển biến của tình hình, mắc bệnh hiểm nghèo, tự thú và lập công lớn/cống hiến đặc biệt, hoặc hòa giải và bồi thường thiệt hại → cơ quan tố tụng có quyền cân nhắc.

Sự phân loại này đảm bảo vừa có tính bắt buộc để thống nhất áp dụng pháp luật, vừa có tính linh hoạt để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

2.1. Nhóm căn cứ miễn TNHS bắt buộc (Khoản 1 Điều 29 BLHS)

Đây là những trường hợp mà cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự, nếu có đủ điều kiện pháp luật. Khoản 1, Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định những trường hợp người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, tức là cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải áp dụng miễn trách nhiệm hình sự nếu có đủ căn cứ, không được tùy nghi lựa chọn.

a) Miễn TNHS do thay đổi chính sách, pháp luật

Khi một hành vi từng bị coi là tội phạm, nhưng sau đó do thay đổi của chính sách hoặc pháp luật mà không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, người đã thực hiện hành vi được miễn trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Tháng 12/2016, ông A bị bắt vì hành vi tàng trữ và buôn bán pháo nổ. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Đầu tư từ ngày 01/07/2015, pháo nổ không còn được xác định là hàng cấm. Như vậy, hành vi của ông A không còn nguy hiểm cho xã hội và cơ quan tiến hành tố tụng phải ra quyết định miễn trách nhiệm hình sự.

b) Miễn TNHS do có quyết định đại xá

Đại xá là quyết định đặc biệt của Chủ tịch nước, áp dụng cho một nhóm đối tượng cụ thể trong một thời điểm nhất định. Khi có quyết định đại xá, những người thuộc diện được áp dụng đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Một quyết định đại xá được ban hành nhân dịp kỷ niệm lớn của đất nước có thể quy định miễn TNHS cho những người phạm tội lần đầu về một số tội ít nghiêm trọng.

2.2. Nhóm căn cứ miễn TNHS tùy nghi

Nhóm này bao gồm các trường hợp mà pháp luật quy định người phạm tội có thể được miễn TNHS theo Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét dựa trên từng hoàn cảnh cụ thể.

a) Miễn TNHS do chuyển biến của tình hình xã hội

Trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nếu có sự chuyển biến khách quan của tình hình khiến hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Chuyển biến ở đây phải mang tính khách quan, gắn với thay đổi bối cảnh chính sách, điều kiện kinh tế xã hội hoặc mức độ thiệt hại thực tế, chứ không chỉ xuất phát từ yếu tố chủ quan của người phạm tội.

Căn cứ này chỉ áp dụng khi có tài liệu chứng minh rõ ràng, chẳng hạn văn bản quản lý mới, báo cáo chuyên ngành, hoặc bằng chứng cho thấy hành vi không còn gây tác hại đáng kể. Việc đánh giá luôn đi kèm với xem xét khả năng tái phạm và nhân thân người phạm tội, bảo đảm việc miễn TNHS không làm suy giảm tính răn đe chung của pháp luật.

Căn cứ theo Điểm a Khoản 2 Điều 29 BLHS 2017: "Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa."

Ví dụ: Một người phạm tội buôn bán nhỏ lẻ một số mặt hàng trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Sau khi chính sách hỗ trợ kinh tế được áp dụng, tình hình ổn định, hành vi tương tự không còn gây tác hại đáng kể, người phạm tội có thể được xem xét miễn TNHS.

b) Miễn TNHS do mắc bệnh hiểm nghèo

Người phạm tội nếu được xác định mắc bệnh hiểm nghèo đến mức không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội, có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự. Đây là căn cứ mang tính nhân đạo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bệnh hiểm nghèo phải được chứng minh bằng kết luận giám định y khoa hợp lệ hoặc hồ sơ điều trị từ cơ sở y tế có thẩm quyền.

Không phải bất kỳ bệnh nặng nào cũng đủ điều kiện; bệnh đó cần làm mất đi khả năng tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm, ví dụ như ung thư giai đoạn cuối, bệnh suy đa tạng, hoặc rối loạn tâm thần nặng có kết luận giám định. Đồng thời, cơ quan tố tụng phải xem xét mối liên hệ trực tiếp giữa tình trạng sức khỏe và nguy cơ gây hại cho xã hội, tránh việc lạm dụng giấy tờ y tế để trốn tránh trách nhiệm.

Ví dụ: Một người bị khởi tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng sau đó phát hiện mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, không còn khả năng tái phạm. Cơ quan tố tụng có thể ra quyết định miễn TNHS.

c) Miễn TNHS do tự thú và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt

Một người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi họ tự thú, khai rõ sự việc, hợp tác hiệu quả với cơ quan chức năng, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và đồng thời có lập công lớn hoặc cống hiến đặc biệt cho xã hội. Tự thú được hiểu là người phạm tội chủ động trình diện và khai báo trước khi hành vi bị phát hiện hoặc ngay sau khi có dấu hiệu bị phát hiện.

Lập công lớn, cống hiến đặc biệt phải có sự ghi nhận chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chẳng hạn bằng khen, quyết định khen thưởng, hoặc tài liệu xác nhận việc hỗ trợ phá án, cứu hộ, cứu nạn, thu hồi tài sản có giá trị lớn. Đây là căn cứ kết hợp, nghĩa là người phạm tội phải vừa tự thú và hợp tác, vừa chứng minh được thành tích nổi bật, không thể chỉ dựa vào một trong hai yếu tố riêng lẻ.

Ví dụ: Một cá nhân phạm tội tham ô tài sản, nhưng trước khi bị phát hiện đã đến công an tự thú, khai báo thành khẩn và cung cấp thông tin giúp cơ quan điều tra phá được một vụ án lớn khác. Do tự thú và lập công lớn, người này có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

d) Miễn TNHS do hòa giải và bồi thường thiệt hại

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu:

  • Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại;
  • Được người bị hại hoặc đại diện của họ tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Anh Long vô ý gây tai nạn giao thông, làm hỏng tài sản của người khác. Anh đã chủ động bồi thường toàn bộ thiệt hại, được nạn nhân đồng ý hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, cơ quan tố tụng có thể xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho anh Long.

Tuy nhiên, để được áp dụng, cơ quan tiến hành tố tụng phải kiểm tra chặt chẽ tính tự nguyện, đầy đủ của việc bồi thường và tính hợp pháp của đề nghị miễn TNHS. Nếu việc hòa giải chỉ mang tính hình thức, bồi thường không đầy đủ hoặc tội phạm nằm ngoài phạm vi luật định, thì không đủ điều kiện để miễn.

2.3. Phân tích về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự 

Nội dung Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự một cách đầy đủ và chi tiết:

Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1. Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2. Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3. Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Khoản 1, Điều 29 BLHS năm 2015 quy định các trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự (đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự) gồm: Do có sự thay đổi chính sách pháp luật  về hành vi phạm tội hoặc khi có quyết định đại xá.

Khoản 2, Điều 29 BLHS năm 2015 quy định những trường người phạm tội "có thể" đượ miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ: Do chuyển biến tính hình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến hành vi phạm tội không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; Người phạm tội tự tú, lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt;... Đây là những căn cứ pháp lý để toà án xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự dựa trên nhận định chủ quan của hội đồng xét xử.

Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 29, trường hợp gia đình người bị hại và người phạm tội tự nguyện hòa giải được đồng thời đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Pháp luật chỉ quy định là "có thể" được miễn, nghĩa là không mặc nhiên có đơn của gia đình người bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì người phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Ngoài ra để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản này, thì người phạm tội phải có các điều kiện như sau:

  1. Tội phạm mà người phạm tội thực hiện phải là tội phạm ít nghiêm trọng;
  2. Hoặc là tội phạm nghiêm trọng do vô ý;
  3. Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.

Theo quy định tại điều 29 BLHS năm 2015 có thể phân căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thành 02 nhóm chính: Miễn trách nhiệm hình sự bắt buộc và tùy nghi.

Miễn trách nhiệm hình sự bắt buộc (khoản 1 Điều 29 BLHS 2015)

Đây là các trường hợp mà cơ quan tiến hành tố tụng phải miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khi có đủ căn cứ pháp lý, không có quyền tùy nghi lựa chọn.

  • Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa:  Căn cứ này áp dụng cho tất cả các loại tội phạm được quy định tại Điều 9 BLHS. Một ví dụ điển hình là việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ xảy ra trong giai đoạn từ ngày 1/7/2015 đến ngày 1/1/2017, vì trong thời gian này, theo Luật Đầu tư, pháo nổ không được xác định là hàng cấm, làm cho hành vi không còn là tội phạm.  
  • Khi có quyết định đại xá:  Đây là quyết định đặc biệt của Chủ tịch nước, áp dụng cho các trường hợp cụ thể đã được quy định trong quyết định đó.

Miễn trách nhiệm hình sự tùy nghi (khoản 2 và khoản 3 Điều 29 BLHS 2015)

Đây là các trường hợp mà cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét để miễn trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào đánh giá các yếu tố cụ thể của vụ án và người phạm tội.

  • Do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa: Căn cứ này cho phép các cơ quan tố tụng đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội tại thời điểm xem xét.
  • Người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa: Căn cứ này mang đậm tính nhân đạo, đặc biệt với những người phạm tội không còn khả năng tái phạm do tình trạng sức khỏe.
  • Người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.  

Căn cứ này khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan chức năng để đấu tranh phòng, chống tội phạm.

  • Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hoà giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.  

Căn cứ này ưu tiên việc giải quyết mâu thuẫn trong cộng đồng, phục hồi quan hệ xã hội giữa người phạm tội và người bị hại.

3. Thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự

Thẩm quyền quyết định miễn trách nhiệm hình sự thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Việc miễn trách nhiệm hình sự là một quyết định tố tụng đặc biệt, và thẩm quyền này được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể cho từng giai đoạn của quá trình tố tụng. Thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự được thực hiện thông qua việc ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ điều tra, truy tố.  

Căn cứ pháp lý chính là các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), bao gồm:

3.1. Thẩm quyền của Cơ quan điều tra

Trong giai đoạn điều tra, nếu phát hiện bị can thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 BLHS, Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra. Căn cứ theo Điều 230 BLTTHS 2015 về đình chỉ điều tra.

​Ví dụ: Bị can C bị khởi tố về hành vi buôn bán một loại hàng hóa. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, pháp luật thay đổi, loại hàng hóa này không còn thuộc diện hàng cấm. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thể ra quyết định đình chỉ điều tra và miễn trách nhiệm hình sự cho C.

3.2. Thẩm quyền của Viện kiểm sát

Khi vụ án đã chuyển sang giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát là cơ quan có quyền quyết định việc miễn trách nhiệm hình sự cho bị can. Cụ thể, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thể ra quyết định đình chỉ vụ án nếu có đủ căn cứ miễn TNHS. Căn cứ theo Điều 247 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc đình chỉ vụ án.

Ví dụ: Bị can D bị truy tố về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, trong thời gian truy tố, D mắc bệnh hiểm nghèo giai đoạn cuối, không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội. Viện kiểm sát có thể ra quyết định đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự cho D.

3.3. Thẩm quyền của Tòa án

Khi vụ án đã được đưa ra xét xử, thẩm quyền miễn trách nhiệm hình sự thuộc về Tòa án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể ra quyết định đình chỉ vụ án. Nếu vụ án đã mở phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền tuyên bố đình chỉ vụ án và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Căn cứ theo Điều 281 BLTTHS 2015 về đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử.

Ví dụ: Bị cáo E bị đưa ra xét xử về tội phạm ít nghiêm trọng. Trong quá trình xét xử, người bị hại và bị cáo đã hòa giải, bị cáo bồi thường đầy đủ thiệt hại và bị hại có đơn đề nghị miễn TNHS. Hội đồng xét xử có thể ra quyết định đình chỉ vụ án và miễn TNHS cho bị cáo.

4. Phân biệt với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự

Việc phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự là rất quan trọng để xác định hậu quả pháp lý chính xác. Miễn hình phạt là việc không buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội đã bị kết án, trong khi miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm về tội mà họ đã thực hiện. Về cơ bản, miễn hình phạt áp dụng sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong khi miễn trách nhiệm hình sự có thể được xem xét ở các giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử.  

Dưới đây là bảng so sánh chi tiết để làm rõ hai chế định này.

Tiêu chí Miễn trách nhiệm hình sự (MTNHS) Miễn hình phạt
Khái niệm Là việc một người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không bị buộc phải chịu trách nhiệm về tội đã thực hiện. Là việc một người đã bị kết án, nhưng không phải chịu hình phạt về tội mà họ đã thực hiện.
Thời điểm áp dụng

Được xem xét ở bất kỳ giai đoạn nào của tố tụng hình sự: điều tra, truy tố hoặc xét xử, trước khi Tòa án ra bản án có hiệu lực pháp luật.  

Chỉ được áp dụng sau khi bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.  

Bản chất pháp lý

Cho rằng người đó không phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự vì họ đã thực hiện tội phạm.  

Cho rằng người đó vẫn có tội và bị kết án, nhưng không phải chịu hình phạt đã tuyên.
Hậu quả Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu bất kỳ hậu quả pháp lý hình sự nào, bao gồm hình phạt, biện pháp tư pháp thay thế hình phạt, và án tích. Người được miễn hình phạt vẫn bị coi là có tội và có án tích. Án tích này chỉ được xóa sau khi họ đáp ứng đủ các điều kiện về thời gian và yêu cầu khác.
Cơ sở pháp lý Các căn cứ được quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, bao gồm các trường hợp bắt buộc (thay đổi chính sách, đại xá) và tùy nghi (chuyển biến tình hình, mắc bệnh hiểm nghèo, lập công, hòa giải). Các căn cứ được quy định tại Điều 62 BLHS 2015, bao gồm các trường hợp như được đặc xá, đại xá, mắc bệnh hiểm nghèo, lập công sau khi bị kết án, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt.
Ví dụ Một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán pháo nổ trước ngày 01/01/2017 có thể được miễn trách nhiệm hình sự do thay đổi chính sách pháp luật. Một người bị kết án tù 2 năm nhưng sau đó đã lập công lớn trong quá trình chấp hành án, nên được Tòa án quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
Áp dụng với pháp nhân

Bộ luật Hình sự không quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.  

Pháp nhân thương mại có thể được miễn hình phạt nếu đã khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường đầy đủ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.   

Như vậy, miễn trách nhiệm hình sự áp dụng cho một người đã có hành vi phạm tội nhưng không bị buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự ngay từ đầu, trong khi miễn hình phạt chỉ áp dụng cho người đã bị kết án và có bản án có hiệu lực pháp luật, giúp họ không phải thi hành hình phạt đã tuyên.

Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp một hành vi tuy có vẻ ngoài giống tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm ngay từ đầu, do hành vi đó chứa đựng một số tình tiết đặc biệt nhất định. Ví dụ điển hình là các trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc tình trạng cấp thiết. Trong khi đó, miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng cho một hành vi đã được xác định là tội phạm và đã phát sinh trách nhiệm hình sự, nhưng sau đó trách nhiệm này được xóa bỏ. Sự khác biệt này là cơ sở để người được miễn trách nhiệm hình sự không được bồi thường thiệt hại từ Nhà nước, vì họ không được coi là bị oan, sai.   Luật Minh Khuê lập bảng so sánh chi tiết như sau:

Tiêu chí Miễn trách nhiệm hình sự Loại trừ trách nhiệm hình sự
Bản chất pháp lý Áp dụng khi một người đã thực hiện hành vi phạm tội (hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm) nhưng được miễn trừ hậu quả pháp lý hình sự vì những lý do nhân đạo hoặc chính sách. Áp dụng khi một hành vi tuy có vẻ ngoài giống tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm ngay từ đầu, do thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm.
Thời điểm áp dụng

Tội phạm đã xảy ra và trách nhiệm hình sự đã phát sinh, nhưng sau đó trách nhiệm này được xóa bỏ. Chế định này được xem xét ở các giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử.  

Ngay tại thời điểm hành vi xảy ra, hành vi đó không bị coi là tội phạm.  

Hậu quả Người được miễn trách nhiệm hình sự không phải chịu hình phạt, biện pháp tư pháp thay thế hình phạt, và án tích. Tuy nhiên, họ vẫn được coi là đã thực hiện hành vi phạm tội và không được bồi thường thiệt hại từ Nhà nước.

Người được loại trừ trách nhiệm hình sự không phải chịu bất kỳ hậu quả pháp lý hình sự nào và được coi là không phạm tội ngay từ đầu.  

Các căn cứ điển hình

Thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội; đại xá; chuyển biến của tình hình; mắc bệnh hiểm nghèo; tự thú, lập công; hoặc hòa giải với bị hại.  

Phòng vệ chính đáng; tình trạng cấp thiết; sự kiện bất ngờ; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

5. Miễn hình phạt đối với pháp nhân

Điều 29 BLHS chỉ quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với cá nhân. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội, pháp luật Việt Nam không ghi nhận chế định miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ quy định về miễn hình phạt.
Nói cách khác, pháp nhân thương mại vẫn bị coi là có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, họ có thể không phải chịu hình phạt đã được quy định.

Pháp nhân thương mại có thể được miễn hình phạt nếu đáp ứng hai điều kiện sau:

  • Đã khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.  
  • Đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.  

Việc miễn hình phạt đối với pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân là người đại diện hoặc cá nhân khác liên quan đến tội phạm đó.

Lưu ý: Pháp luật Việt Nam không quy định "miễn trách nhiệm hình sự" cho pháp nhân, mà chỉ quy định "miễn hình phạt". Điều này có nghĩa là pháp nhân vẫn bị coi là có tội nhưng không phải chịu các hình phạt như phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động.  

Ví dụ: Công ty Z gây ra hành vi gây ô nhiễm môi trường do xả thải trái phép. Hành vi này đã thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm theo Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ngay sau khi hành vi bị phát hiện, công ty đã chủ động hợp tác với cơ quan chức năng, tự nguyện chi trả toàn bộ chi phí để xử lý ô nhiễm, khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại cho những người dân bị ảnh hưởng. Mặc dù công ty Z vẫn bị xác định là có tội, nhưng do đã khắc phục toàn bộ hậu quả và bồi thường đầy đủ thiệt hại, công ty có thể được miễn hình phạt theo quy định của pháp luật.

Việc tách bạch giữa miễn TNHS đối với cá nhân và miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại cho thấy chính sách hình sự của Nhà nước có sự điều chỉnh phù hợp:

  • Với cá nhân, có thể miễn trách nhiệm hình sự hoàn toàn trong những trường hợp đặc biệt, để họ không phải gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự.
  • Với pháp nhân thương mại, Nhà nước vẫn khẳng định trách nhiệm hình sự, nhưng cho phép miễn hình phạt nếu pháp nhân đã khắc phục triệt để hậu quả, nhằm khuyến khích sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm trong kinh doanh.

5. Câu hỏi thường gặp về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự có phải là không phạm tội?

Miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc không phạm tội. Trên thực tế, hai khái niệm này có sự khác biệt rõ ràng về bản chất pháp lý.

Miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng cho một người đã thực hiện hành vi phạm tội, tức là hành vi của họ đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, vì các lý do như chính sách nhân đạo của Nhà nước, người này được miễn gánh chịu hậu quả pháp lý hình sự, bao gồm hình phạt và án tích. Dù được miễn, họ vẫn được coi là người đã thực hiện hành vi phạm tội. Ngược lại, Không phạm tội là không vi phạm pháp luật hình sự hoặc bị toà án tuyên vô tội. 

Miễn trách nhiệm hình sự có án tích không?

Người được miễn trách nhiệm hình sự sẽ không có án tích. Việc miễn trách nhiệm hình sự bao gồm việc miễn toàn bộ hậu quả pháp lý hình sự của tội đã phạm, trong đó có cả hình phạt, các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt và án tích. Người được miễn trách nhiệm hình sự vẫn chịu sự giám sát của gia đình, địa phương hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc .

Kết luận

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, thể hiện rõ chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội. Điều 29 BLHS 2015 đã quy định đầy đủ các căn cứ để áp dụng, bao gồm trường hợp bắt buộc và tùy nghi, đồng thời có sự phân biệt với miễn hình phạt và loại trừ trách nhiệm hình sự. Việc hiểu và vận dụng chính xác các căn cứ này không chỉ góp phần đảm bảo tính nghiêm minh và nhân văn của pháp luật mà còn giúp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Trong trường hợp còn bất cứ vướng mắc nào, bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư Luật Minh Khuê, gọi số 1900.6162 hoặc gửi qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.