Theo Văn bản hợp nhất Luật Tố cáo số 10/VBHN-VPQH ngày 15-07-2020 của Văn phòng Quốc hội và Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10-04-2019 của Chỉnh phủ Quy định chi tiết một số Điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo.
Quy định cụ thể như sau:
Theo Điều 34 Luật Tố cáo:
1. Người giải quyết tố cáo ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) càn đợi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan;
b) Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại.
2. Khi căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không còn thì người giải quyết tố cáo ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo; thời gian tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không tính vào thời hạn giải quyết tố cáo.
3. Người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này;
b) Người bị tố cáo là cá nhân chết và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến trách nhiệm của người bị tố cáo;
c) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thâm quyên.
4. Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết tố cáo phải nêu rõ lý do, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và gửi đến người tố cáo, người bị tố cáo trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Luật Minh Khuê phân tích, làm sáng tỏ quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về đình chỉ giải quyết việc tố cáo như sau:
1. Đình chỉ, tố cáo là gì ?
Theo khái niệm văn học, "đình chỉ" được hiểu là ngừng hẳn một hoạt động hoặc phải ngừng lại trong một khoảng thời gian dài chưa xác định. Đối với "tạm đình chỉ" khái niệm "tạm" được hiểu là trong một thời gian nào đó, khi có một sự kiện nào đó xảy ra thì hoạt động này sẽ được tiếp tục. Hoạt động "đình chỉ" và "tạm đình chỉ" việc giải quyết tố cáo là một trong những thủ tục hành chính mới được quy định trong Luật Tố cáo năm 2018. So với Luật Tố cáo năm 2011 đã hết hiệu lực thi hành, Luật Tố cáo năm 2018 đã quy định điểm mới này trong trình tự và hoạt động giải quyết đơn Tố cáo. Quy định này đáp ứng được yêu cầu và thực tế xã hội khi giải quyết vụ việc, nhằm đạt được tính chính xác nhất và minh bạch, khái quát nhất cho quá trình giải quyết đơn tố cáo.
Căn cứ theo Khoản 1- Điều 2 Luật tố cáo năm 2018 định nghĩa về hoạt động tố cáo như sau:
- Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nói một cách đơn giản, hoạt động tố cáo diễn ra trong đời sống là quyền và đồng thời cũng là nghĩa vụ của bất kỳ cá nhân nào phát giác được hành vi vi phạm pháp luật, hoặc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, tổ chức khác. Đơn tố cáo được thực hiện khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong các trường hợp sau đây :
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ : trường hợp này được hiểu đối với những cá nhân, tổ chức được giao quyền và nhiệm vụ thực hiện việc quản lý nhà nước hoặc thay mặt nhà nước quản lý các hoạt động cấp cơ sở. Những đối tượng thực hiện nhiệm vụ, công vụ được liệt kê như sau:
- Cán bộ, công chức, viên chức; người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ được gọi chung là cán bộ được phân công thực hiện việc quản lý Nhà nước ;
- Người không còn là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian là cán bộ, công chức, viên chức; người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ : đối với trường hợp tố cáo này nhằm ngăn chặn các thiệt hại mà chủ thể đó gây ra, đồng thời yêu cầu chủ thể đó thực hiện khắc phục thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra ;
- Cơ quan, tổ chức.
+ Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực : là tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào về việc chấp hành quy định của pháp luật, trừ hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
2. Căn cứ cho hoạt động đình chỉ, tạm đình chỉ đối với giải quyết Tố cáo theo quy định pháp luật ?
Tạm đình chỉ, đình chỉ là những thuật ngữ chỉ những hành động như tạm ngừng trong một khoảng thời gian nhất định hoặc chấm dứt đối với hoạt động điều tra hoặc tố tụng của vụ án khi có sự kiện phát sinh hoặc sự kiện phát sinh làm chấm dứt hoặc khắc phục hành vi vi phạm pháp luật đó. Đối với hoạt động định chỉ, tạm định chỉ sẽ được người có thẩm quyền giải quyết tố cáo ra quyết định khi xảy ra sự kiện pháp lý làm thay đổi tình tiết, nội dung và quá trình giải quyết đơn tố cáo.
Trước đây trong Luật Tố cáo năm 2011 (hết hiệu lực thi hành) không đề cập đến trường hợp đình chỉ hoặc tạm đình chỉ khi giải quyết tố cáo, tuy nhiên trong Luật Tố cáo năm 2018 có hiệu lực thi hành đã quy định về trường hợp này, cho thấy sự tiến bộ của pháp luật và tầm nhìn của các nhà làm luật đối với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội như hiện nay. Các căn cứ nhằm đưa ra hướng giải quyết hiệu quả theo quy định pháp luật được hướng dẫn cụ thể tại Điều 34 - Luật Tố cáo như sau :
- Người giải quyết tố cáo ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Cần đợi kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc đợi kết quả giải quyết vụ việc khác có liên quan : điều này sẽ giúp cho chủ thể giải quyết đơn tố cáo nhận được kết quả kết luận cuối cùng trước khi giải quyết đơn Tố cáo, ngoài ra trong trường hợp nếu chủ thể của đơn tố cáo đang trong thời gian giải quyết một vụ việc khác thì việc đợi kết quả giải quyết sẽ nắm bắt được vụ việc đó có liên quan đến vụ việc trong đơn tố cáo hay không, có gây ảnh hưởng, thiệt hại hay liên đới đến vụ việc trong đơn tố cáo đó hay không,...
- Cần đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại: tương tụ như trường hợp nêu trên, việc đợi kết quả giám định bổ sung, giám định lại nhằm tăng tính chính xác đối với việc giải quyết đơn tố cáo. Ví dụ: Đối với đơn tố cáo về hành vi cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 134 - Bộ Luật Hình sự 2017 mà người bị hại đang gặp trở ngại chưa đi giảm định thương tích, thì việc đợi kết quả giám định thương tích của Viện pháp y của Bộ y tế, Trung tâm giám định hoặc tại Cơ sở Y tế để xác định được mức độ thương tích,... Sau đó người giải quyết Tố cáo mới đưa ra kết luận.
- Khi căn cứ tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không còn thì người giải quyết tố cáo ra ngay quyết định tiếp tục giải quyết tố cáo; thời gian tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo không tính vào thời hạn giải quyết tố cáo.
- Người giải quyết tố cáo ra quyết định đình chỉ việc giải quyết tố cáo khi có một trong các căn cứ sau đây:
- Người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo, trừ trường hợp quy định có nhiều người cùng tố cáo về một vụ việc nhưng có một hoặc một số người tố cáo rút đơn tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định pháp luật. Người đã rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ liên quan đến vụ việc trong quá trình giải quyết hoặc đưa ra quyết định về vụ việc ;
- Người bị tố cáo là cá nhân chết và nội dung tố cáo chỉ liên quan đến trách nhiệm của người bị tố cáo ;
- Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
- Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ việc giải quyết tố cáo phải nêu rõ lý do, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và gửi đến người tố cáo, người bị tố cáo trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định. Người ra quyết định cần đảm bảo các quyết định được thông báo sớm nhất đến tay các chủ thể có liên quan. Đồng thời các chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan cần nắm bắt, xác định những nội dung về quyền và lợi ích họp pháp liên quan đến mình.
3. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc đình chi, tạm đình chỉ giải quyết tố cáo?
Đối với một đơn tố cáo và trong hoạt động giải quyết đơn thư tố cáo sẽ bao gồm những chủ thể sau đây: người tố cáo, người bị tố cáo, người giải quyết tố cáo. Luật Tố cáo năm 2018 quy định về quyền và nghĩa vụ tương ứng của các chủ thể này như sau:
- Theo Khoản 3 - Điều 9 về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo : Người tố cáo sẽ được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo ;
- Theo Điểm a - Khoản 1 - Điều 10 về quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo : Người bị tố cáo cũng sẽ được thông báo về nội dung tố cáo, việc gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo;
- Theo Khoản 2 - Điều 11 về quyền của người giải quyết tố cáo :
- Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thông báo cho người tố cáo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, việc chuyển vụ việc tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo ;
- Đồng thời, người giải quyết tố cáo cũng phải thông báo cho người bị tố cáo về nội dung tố cáo, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo; gửi kết luận nội dung tố cáo cho người bị tố cáo.
Việc đình chỉ giải quyết tố cáo trên thực tế đóng vai trò quan trọng và là phương pháp hiệu quả nhằm ngăn chặn những rủi ro phát sinh trong quá trình giải quyết đơn tố cáo. Trong trường hợp xảy ra những tình tiết, sự kiện làm thay đổi hành vi, hậu quả của nội dung đơn tố cáo mà đã đưa ra kết luận giải quyết tố cáo thì chưa thực sự khách quan.
Ví dụ: A tố cáo B về hành vi cố ý gây thương tích, thời gian đầu nội dung đơn tố cáo đề cập đến việc A bị dùng gậy tác động vào vùng ngực và bụng dẫn đến đâu, thâm tím, tụ máu ở những vùng. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết tố cáo, A có những dấu hiệu tổn thương nội tạng từ những vết thương do xương gãy ở phía trong đâm vào phổi,... Lúc này quá trình giải quyết tố cáo cần đình chỉ để phía A và người nhà nạn nhân A đến Cơ sở Y tế khám và xác định được mức độ thương tích và phần trăm tổn thương các bộ phận trong cơ thể.
Lúc này, phía người có thẩm quyền giải quyết tố cáo cần tạm đình chỉ giải quyết tố cáo để đợi kết quả giám định cuối cùng về tình hình của người tố cao để làm căn cứ đưa ra kết luận phù hợp cũng như đảm bảo được quyền lợi của bên tố cáo, đồng thời bên bị tố cáo có nghĩa vụ chịu trách nhiệm thích đáng.
Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được hỗ trợ tư vấn kịp thời. Hy vọng những thông tin trên chúng tôi cung cấp sẽ hỗ trợ sẽ giúp bạn trong việc yêu cầu hoặc được thông tin về việc đình chỉ, tạm đình chỉ khi có đơn tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân. Xin chân thành cảm ơn!