1. Căn cứ tạm dừng việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất theo quy định
Theo quy định của Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015, chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ và ngăn chặn người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật. Quyền này giúp bảo vệ và duy trì tính toàn vẹn của quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản còn được quyền yêu cầu Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản. Đồng thời, họ cũng có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật trong quá trình thực hiện quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Nếu có thiệt hại phát sinh do hành vi xâm phạm, chủ sở hữu và chủ thể còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại từ người vi phạm.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cụ thể là Điều 111, Điều 114, và Điều 114, việc cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp có hiệu lực trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có bằng chứng chứng minh hành vi chuyển dịch quyền của người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp cho người khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời. Mục đích của việc này là tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ chứng cứ, và bảo toàn tình trạng hiện có để tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án.
Trong tình thế khẩn cấp, nếu có nguy cơ xảy ra hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục, cá nhân, cơ quan, hoặc tổ chức có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Biện pháp này bao gồm cấm chuyển dịch quyền về tài sản và cấm thay đổi hiện trạng tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. Đồng thời, họ cũng có quyền nộp đơn khởi kiện để đưa vấn đề này lên Tòa án để giải quyết một cách chính thức.
2. Quy định về bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Theo quy định tại Điều 164 Bộ Luật Dân sự 2015, chủ sở hữu và chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ và ngăn chặn bất kỳ hành vi xâm phạm nào bằng những biện pháp không vi phạm quy định pháp luật. Chủ sở hữu và chủ thể này cũng có quyền yêu cầu Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người xâm phạm phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu, và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Một trong những biện pháp hiệu quả để thực hiện quyền của chủ sở hữu hoặc chủ thể là đề xuất cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản. Dưới đây là chi tiết nội dung liên quan:
- Biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu hoặc chủ thể. Nó có mục đích chủ yếu là đảm bảo rằng trong tình huống khẩn cấp hoặc cấp bách, không gây ra thiệt hại không thể khắc phục được.
- Biện pháp này có thể được áp dụng khi chủ sở hữu hoặc chủ thể chứng minh được sự cần thiết và khẩn cấp của việc ngăn chặn sự chuyển nhượng quyền về tài sản.
- Chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đề xuất cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản. Đề xuất này cần được chứng minh và nêu rõ lí do cấp bách và khẩn cấp của việc thực hiện biện pháp.
- Cơ quan có thẩm quyền sau khi xem xét và đánh giá đề xuất sẽ quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản. Quyết định này dựa trên sự cần thiết và khẩn cấp của tình huống.
- Biện pháp này có thể được thực hiện ngay lập tức sau quyết định và sẽ giữ hiệu quả trong một khoảng thời gian cần thiết để đảm bảo an toàn và bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu hoặc chủ thể.
- Trong trường hợp cần thiết, nếu việc áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản gây thiệt hại không đáng có cho bên khác, chủ sở hữu hoặc chủ thể cũng có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật.
3. Các biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 114 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định rằng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản là một trong những biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong trường hợp tài sản đang trong quá trình tranh chấp.
Và Điều 111 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự, người đại diện hợp pháp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án đều có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp này để bảo vệ quyền và lợi ích cấp bách, như bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, và bảo toàn tình trạng hiện có.
Trong tình huống khẩn cấp, nếu cần phải ngay lập tức bảo vệ chứng cứ và ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Điều này có thể xảy ra đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án. Tòa án sẽ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp này. Quyết định này được đưa ra dựa trên sự cần thiết và khẩn cấp của tình huống.
Theo Điều 121 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản được áp dụng đối với tài sản đang trong quá trình tranh chấp. Nó có hiệu lực nếu có căn cứ cho thấy người chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp đang thực hiện hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cho người khác. Mục đích chính của biện pháp này là ngăn chặn hành vi chuyển nhượng tài sản mà có thể gây ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của vụ án. Nó giúp bảo vệ tính công bằng và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan. Biện pháp này sẽ có hiệu quả trong khoảng thời gian cần thiết cho quá trình giải quyết vụ án. Trong trường hợp biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản gây thiệt hại không đáng có cho bên khác, người yêu cầu biện pháp này cũng có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định của pháp luật.
Theo Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có một số quy định liên quan đến áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết này quy định rằng đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong trường hợp áp dụng biện pháp này, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải theo dõi và xem xét về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã áp dụng khi có căn cứ quy định tại Điều 138 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán còn có trách nhiệm xem xét, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của đương sự.
Tuy nhiên, Tòa án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết việc dân sự quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 của Điều 4 trong Nghị quyết nêu rõ những trường hợp không áp dụng biện cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp và biện pháp phong tỏa tài sản. Điều này bao gồm tài sản được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã có hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định, trừ những trường hợp cụ thể được quy định.
Công ty Luật Minh Khuê gửi quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Hạn mức tối đa nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp?
Để tiếp cận dịch vụ tư vấn pháp lý của chúng tôi, quý khách có thể liên hệ trực tiếp với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên viên của chúng tôi sẽ tận tâm lắng nghe và cung cấp giải pháp phù hợp nhất cho tình huống cụ thể của quý khách. Ngoài ra, quý khách cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi và hỗ trợ giải đáp mọi thắc mắc của quý khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả. Chân thành cảm ơn sự hợp tác và niềm tin của quý khách hàng!