1. Căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý
Căn cứ pháp lí của việc truy cứu trách nhiệm pháp lí là tổng thể các quy định của pháp luật được các chủ thể tiến hành sử dụng làm căn cứ cho tất cả các hoạt động trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lí. Căn cứ pháp lí được pháp luật xác định bao gồm:
- Các quy định của pháp luật hiện hành xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí. Những quy định này thường được gọi là pháp luật về tố tụng hay pháp luật về thủ tục.
- Các quy định của pháp luật hiện hành xác định hành vi bị coi là vi phạm pháp luật và biện pháp cưởng chế dự kiến áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi đó, những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lí, điều kiện áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhất định, các quy định về hồi tố (nếu có)...
- Các quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí là một khoảng thời gian nhất định do pháp luật quy định mà chỉ trong thời hạn đó, chủ thể vi phạm pháp luật mới có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lí, nếu hết thời hạn đó mà hoạt động truy cứu chưa được tiến hành thì không được truy cứu nữa. Tùy loại vi phạm mà pháp luật quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lí dài, ngắn khác nhau, bên cạnh đó có những vi phạm không có thời hiệu truy cứu.
Căn cứ thực tế của việc truy cứu trách nhiệm pháp lí chính là vĩ phạm pháp luật đã xảy ra trên thực tế được xác định qua các yếu tố cấu thành của vi phạm đó. Cụ thể là:
- Căn cứ vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Có thể nói, hành vi trái pháp luật là căn cứ đầu tiên cho việc truy cứu trách nhiệm pháp lí. Nếu không xác định được hành vi trái pháp luật thì không thể tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí. Thời gian, địa điểm, công cụ, phưong tiện, tính chất, phưong pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí bởi đó là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định biện pháp cưỡng chế cụ thể. Mức độ thiệt hại có ý nghĩa quan trọng để xác định loại trách nhiệm pháp lí cần truy cứu cũng như xác định biện pháp cưỡng chế một cách tương xứng. Một hành vi dù trái pháp luật nhung thiệt hại mà nó gây ra cho xã hội là không đáng kể thì có thể không cần phải truy cứu trách nhiệm pháp lí. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại cho xã hội là một căn cứ quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lí, bởi lẽ, một người sẽ không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại không phải do hành vi của mình gây ra, và pháp luật cũng không thể buộc một người phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà không phải do hành vi của họ trực tiếp gây ra. Giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại cho xã hội được coi là có mối quan hệ nhân quả nếu hành vi trái pháp luật xảy ra trước sự thiệt hại, hành vi trái pháp luật chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại, thiệt hại xảy ra là kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật.
- Căn cứ vào chủ thể vi phạm pháp luật
Đối với chủ thể là cá nhân, khi tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí, cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền phải căn cứ vào độ tuổi của chủ thể đã thực hiện hành vi trái pháp luật. Neu đến thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, cá nhân chưa đủ tuổi do pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm pháp lí thì không được tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với họ. Độ tuổi cũng là căn cứ quan trọng để cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền lựa chọn biện pháp cưỡng chế nhà nước một cách phù hợp. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể là một căn cứ quan trọng để tiến hành truy cứu trách nhiệm pháp lí. Nếu ở thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, chủ thể không có khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với họ. Nếu ở thời điểm truy cứu trách nhiệm pháp lí, chủ thể bị mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí có thể phải tạm dừng hoặc huỷ bỏ. Nhân thân người vi phạm cũng là căn cứ để có thể lựa chọn biện pháp cưỡng chế một cách phù hợp.
Đối với tổ chức, địa vị pháp lí của tổ chức là căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí. Không truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với một tổ chức mà sự tồn tại của nó là bất họp pháp. Trong trường hợp này, việc truy cứu trách nhiệm được tiến hành đối với từng cá nhân tham gia tổ chức bất hợp pháp đó. Với đặc thù của mình, tổ chức chỉ có thể bị áp dụng một số biện pháp cưỡng chế nhà nước nhất định do pháp luật quy định.
Cần chú ý các quy định về miễn trừ trách nhiệm pháp lí đối với một số chủ thể đặc biệt. Mỗi loại vi phạm pháp luật có chủ thể riêng, do vậy cần phải lưu ý vấn đề này khi truy cứu trách nhiệm pháp lí.
- Căn cứ vào mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Lỗi là yếu tố quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm pháp lí. Chỉ những trường hợp khi thực hiện hành vi, chủ thể có lỗi mới có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lí. cần lưu ý, như phần trên đã đề cập, trong khoa học pháp lí, trách nhiệm pháp lí còn được hiểu là sự bắt buộc phải bồi thường khi có thiệt hại xảy ra mặc dù không có vi phạm pháp luật. Theo đó, pháp luật có thể buộc chủ thể có liên quan phải gánh chịu trách nhiệm pháp lí ngay cả khi họ không có lỗi (xem khoản 3 Điều 601 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015). Hình thức lỗi cụ thể là căn cứ để xác định biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể một cách phù hợp. Trong nhiều trường họp, động cơ, mục đích vi phạm cũng là căn cứ quan trọng để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể đối với chủ thể vi phạm pháp luật.
- Căn cứ vào khách thể của vi phạm pháp luật
Khách thể là căn cứ rất quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lí. Hành vi dù gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội nhưng nếu quan hệ xã hội đó không được pháp luật bảo vệ thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lí. Tính chất và tàm quan trọng của quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội cũng như thái độ của nhà nước trong từng giai đoạn phát triển của đất nước... Do vậy, cũng có thể phải căn cứ vào chính sách của nhà nước đối với quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ để truy cứu trách nhiệm pháp lí cho phù hợp.
2. Các yêu cầu của truy cứu trách nhiệm pháp lí
Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí phải bảo đảm các yêu cầu cơ bản sau:
+ Bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí. Nghĩa là, hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí phải được tiến hành đúng thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định, có căn cứ pháp lí vững chắc, đúng người, đúng vi phạm, đúng pháp luật, tránh oan sai nhưng không bỏ lọt vi phạm.
+ Bảo đảm tính hợp lí trong hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí, nghĩa là quyết định áp dụng pháp luật được ban hành khi truy cứu trách nhiệm pháp lí phải phù hợp với các điều kiện hiện thực để có thể thi hành được đồng thời phải đảm bảo tính có lợi nhất về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
+ Việc truy cứu trách nhiệm pháp lí phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền, các giá trị con người. Không áp dụng những biện pháp cưỡng chế có tính chất làm nhục con người. Nghiêm trị kẻ chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm và vi phạm pháp luật có tính chuyên nghiệp. Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, ăn năn hối cải, lập công, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra.
+ Hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lí phải được tiến hành kịp thời, nhanh chóng, nhằm bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm pháp lí được thuận lợi, ngăn chặn kịp thời các vi phạm pháp luật tương tự có thể xảy ra cũng như ngăn ngừa hiện tượng tiêu cực trong quá trình truy cứu trách nhiệm pháp lí.
+ Bảo đảm nguyên tắc công bằng trong truy cứu trách nhiệm pháp lí.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)