1. CSGT có được dừng xe để kiểm tra hành chính không?

Chào Luật Minh Khuê, ngày 12/3/2018 tôi đang lưu thông trên tuyến đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, đến ngã tư Khuất Duy Tiến thì bị CSGT dừng xe và kiểm tra hành chính mặc dù tôi không vi phạm luật giao thông và xe tôi đủ tiêu chuẩn. Xin hỏi luật sư, liệu CSGT có quyền dừng xe để kiểm tra hành chính khi không vi phạm hay không?
Cảm ơn!

Trả lời:

Nhiều người cho rằng chỉ khi nào mình phạm lỗi khi tham gia giao thông thì cảnh sát giao thông (CSGT) mới có quyền dừng xe và kiểm tra hành chính. Điều này hoàn toàn không đúng và nhận thức trên của đa số người dân là sai lệch.

Căn cứ khoản 1, 2, 3 Điều 5 Thông tư 01/2016/TT-BCA quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông:

"1. Được dừng các phương tiện đang tham gia giao thông đường bộ; kiểm soát phương tiện, giấy tờ của phương tiện; kiểm soát người và giấy tờ của người điều khiển phương tiện, giấy tờ tùy thân của người trên phương tiện đang kiểm soát, việc thực hiện các quy định về hoạt động vận tải đường bộ theo quy định pháp luật.

2. Xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác theo quy định của pháp luật.

3. Được áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm cho việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; tạm giữ giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe và giấy tờ khác có liên quan đến phương tiện, người điều khiển phương tiện hoặc những người trên phương tiện khi có hành vi vi phạm pháp luật, giấy tờ liên quan đến hoạt động vận tải để bảo đảm cho việc thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật."

Căn cứ khoản 2 Điều 12, Thông tư 01/2016/TT-BCA về các trường hợp dừng phương tiện của CSGT:

"2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:

a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;

c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;

d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện đểkiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;

đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông."

Như vậy, việc CSGT dừng xe và kiểm tra hành chính là hoàn toàn đúng luật, bạn nên chấp hành các mệnh lệnh và chỉ dẫn của CSGT.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Giao thông, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Xử lý vi phạm hành chính vì mang gậy 3 khúc trong người bị phạt bao nhiêu tiền ?

2. Quy định về tốc độ tối đa trong khu dân cư ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em chạy trên đường không có biển báo hiệu hạn chế tốc độ, không có biển báo khu đông dân cư, em chạy với tốc độ 58km/h. Cảnh sát giao thông thổi lại nói tốc độ này phạt 750 nghìn.
Em muốn hỏi cảnh sát phạt như vậy có đúng không ? Em nói quên mang đăng ký xe và giấy phép lái xe thì cảnh sát đòi giữ xe, sau đó họ nói đứa 300 nghìn thì cho đi. Vậy có phải là ăn hối lộ không ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bạn không nói rõ phương tiện tham gia giao thông của bạn là ô tô hay xe gắn máy lên tôi phân tích tình huống của bạn như sau:

1. Theo như bạn đã nói thì ở chỗ đó không có biển hạn chế tấc độ và không có biển báo khu đông dân cư và bạn chạy với tấc độ 58km/h.Căn cứ theo điều 7 Thông tư 13/2009/TT - BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ thì vận tốc tối đa Ô tô buýt; tô sơ mi rơ moóc; ô tô chuyên dùng; xe mô tô chạy ở đây là 60km/h và Ô tô kéo rơ moóc; ô tô kéo xe khác; xe gắn máy là 50km/h.

Căn cứ vào Nghị định 171/2013/NĐ-CP (Thay thế bởi: Nghị định 46/2016/NĐ-CP) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt và Nghị định số 107/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 171/2013/NĐ - CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt.

Theo như điểm c khoản 3 điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ - CP (Thay thế bởi: Nghị định 46/2016/NĐ-CP) thì mức xử phạt đối người điều khiển xe ô tô,xe tương tự xe ô tô mà vi phạm quy tắc giao thông đường bộ sẽ bị phạt từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với lỗi là chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

Như vậy sẽ có hai khả năng xảy ra:

Thứ nhất: Nếu bạn điều khiển xe ô tô xe tương sự xe ô tô chạy với vận tốc 58km/h thì công an xử phạt bạn lỗi chạy quá tấc độ là sai quy định vì( theo như điều 7 thông tư 13/2009/TT - BGTVT);

Thứ hai: Nếu bạn điều khiển xe gắn máy, xe tượng tự xe gắn máy chạy với tấc độ 58km/h thì công an xử phạt bạn lỗi chạy quá tốc độ là đúng (theo Điều 7 thông tư 39/2009/TT - BGTVT).Tuy nhiên mức phạt 750.000 đồng là trái với quy định tại điểm a khoản 3 điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ - CP ( đã được sửa đổi bổ sung bởi nghị định 107/2014/ NĐ - CP) chỉ từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.Như vậy công an đưa ra mức phạt như vậy là sai quy định của pháp luật.

2. Bạn nói quên mang đăng ký xe và quên mang giấy phép lái xe thì sẽ có hai khả năng xảy ra:

Thứ nhất: Căn cứ vào khoản 2 điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ - CP (đã được sửa đổi bổ sung bởi điều nghị định 107/2014/NĐ - CP) Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đối với những người điều khiển xe mô tô,xe gắn máy xe tương tự xe mô tô,xe tương tự xe gắn máy trong những trường hợp:

b. Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;
c. Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe.

Như vậy tổng mức phạt cho hai lỗi của bạn là không mang đăng ký xe và giấy phép lái xe tối đa sẽ là 240.000 đồng .Như vậy đối với trường hợp này công an đưa ra mức phạt là là sai quy định tại khoản 2 điều 21 nghị định này.

Thứ hai: Căn cứ vào khoản 3 điều 21 Nghị định 171/2013/NĐ - CP (đã được sửa đổi bổ sung nghị định 107/2014/NĐ - CP) phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đối với những người điều khiền xe ô tô, máy kéo trong những trường hợp:

a) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy phép lái xe;
b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe.

Như vậy tổng mức hình phạt tối đa cho hai lỗi của bạn là không mang giấy phép lái xe và đăng ký xe là tối đa 800.000 đồng.Như vậy công an xử phạt bạn với mức 300.000 đúng trong phạm vi số tiền bị phạt theo như quy định tại khoản 3 điều 21 nghị định này.

>> Xem thêm:  Hợp đồng mượn xe máy có bắt buộc công chứng không ? Thủ tục đòi lại tài sản cho mượn

3. Xe chưa sang tên mà bị cảnh sát giữ thì phải làm sao ?

Thưa luật sư, em muốn hỏi: Em mua xe máy từ cửa hàng kinh doanh có giấy tờ mua bán nhưng đã bị mất, giấy tờ xe chưa sang tên.

Hiện tại em bị cảnh sát giao thông phạt vì lỗi không bằng lái, không mũ bảo hiểm và phạt chủ xe (người đứng tên trong giấy tờ xe) lỗi cho người không đủ điều kiện mượn xe (em không có bằng lái) . Em lên công an nộp phạt lấy xe nhưng bên công an yêu cầu người đứng tên đi cùng nhưng người đứng tên xe không chịu đi mà chỉ đồng ý làm lại giấy tờ mua bán.

Cho em hỏi vậy em có thể cầm giấy tờ mua bán(sau khi bị bắt xe mới làm lại) lên công an lấy xe không? Và người đứng tên có bị phạt lỗi giao xe cho người không có điều kiện sử dụng nữa không ?

Em xin cám ơn!

Người gửi: C.V.T

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty chúng tôi, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, Về việc chuyển quyền sở hữu xe

Theo quy định của pháp luật thì: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho, tặng, thừa kế xe, người mua hoặc nhận xe phải đến cơ quan đăng ký xe đang quản lý xe đó làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe”( mục II.B Thông tư số 06/2009/TT-BCA-C11 quy định về cấp, thu hồi, đăng k‎ý các loại phương tiện giao thông đường bộ.)

Cũng theo thông tư này thì giấy tờ mua bán, tặng cho xe của cá nhân phải có xác nhận của đơn vị công tác hoặc có chứng thực chữ k‎ý của người bán, cho tặng xe theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể tại điểm 3.1.5 mục II A thông tư 06/2009/TT-BCA-C11 quy định về cấp, thu hồi, đăng k‎ý các loại phương tiện giao thông đường bộ quy định “ Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có xác nhận của đơn vị công tác hoặc có chứng thực chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định”.

Và theo quy định tại khoản 2 Điều 439 Bộ Luật Dân Sự 2005 thì:

“Ðối với tài sản mua bán mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản đó”.

Do đó dựa vào những căn cứ trên thì việc mua bán xe của bạn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, nên về mặt pháp l‎ý thì xe của bạn mua vẫn thuộc sở hữu của người bán có nghĩa là người bán vẫn là chủ xe theo quy định của pháp luật.

Hơn nữa theo quy định tại điều 16, Nghị định 115/2013/NĐ-CP về trình tự, thủ tục khi trả lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ thì người quản lý, bảo quản chỉ trả lại phương tiện bị tạm giữ khi đã kiểm tra quyết định trả lại và kiểm tra chứng minh nhân dân và giấy tờ có liên quan của người đến nhận. Theo yêu cầu của công an thì chủ xe phải đến lấy mà bạn không phải chủ xe theo quy định của pháp luật thì bạn không thể lấy xe được.

Thứ hai, Điều kiện của người tham gia giao thông được quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ năm 2008 như sau:

" Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông

1. Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định tại Điều 60 của Luật này và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Người tập lái xe ô tô khi tham gia giao thông phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viên bảo trợ tay lái."

Việc bạn không có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông là căn cứ xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ xe về hành vi giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông quy định tại điểm đ, khoản 3, mục 8 Điều 1 Nghị định số 107/2014/NĐ-CP như sau:

" 3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, từ 1.600.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:....

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn dịch vụ tư vấn tại Công ty Luật Minh Khuê.!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo mẫu hợp đồng tặng cho xe máy (ô tô) theo quy định mới nhất ?

4. Luật sư tư vấn và giải đáp thắc mắc về luật giao thông ?

Kính thưa Luật sư Tôi tên P, lái xe khách. Xin Luật sư tư vấn giúp tôi vụ tai nạn giao thông như sau : Vào ngày 06/04/2015, tôi điều khiển xe khách lưu thông trên QL 20 từ Đà lạt về TP.HCM. Khi đến đoạn đường phía bên trái của tôi có hàng rào chắn gạch đá khoảng 5m và tôi đi gần hết chướng ngại vật, lúc đó có một xe ben bất ngờ vượt trái, lấn hết sang phần đường tôi đang lưu thông và đâm thẳng vào xe của tôi gây tai nạn cho tôi.
Khi phát hiện tôi thắng lại không thể né tránh vì lúc đó bên tay phải của tôi là xe máy đang lưu thông, tay trái là chướng ngại vật, tôi lưu thông đúng phần đường và tốc độ 38km/h (nội thị). Sau khi CSGT đến làm hiện trường chỉ vẽ sơn vị trí xe của tôi mà không vẽ vị trí xe ben? Và cũng không cho tôi ký vào biên bản hiện trường? Sau khi CSGT mời tôi lên làm việc và nói đây là lỗi hỗn hợp (50/50), theo CSGT giải thích vì đây là đoạn đường hẹp tôi phải đi sát lề phải, tôi nhận thấy vô lý vì đây là đường mà quyền ưu tiên thuộc tôi, nếu tôi đi sát lề phải gây tai nạn cho xe máy hoặc xe máy đi ra phía ngoài ( bên trái) của tôi mà xảy ra tai nạn thì tôi là người chịu trách nhiệm.
Tôi không đồng ý với giải thích trên của CSGT vì xe ben trên đã không tuân thủ luật giao thông, vượt trái khi có chướng ngại vật bên phần đường của mình và có xe lưu thông ngược chiều lại và gây tai nạn như vậy là không đúng. Luật sư cho tôi biết quan điểm của tôi đúng hay sai và lý giải của CSGT như vậy có công bằng khách quan trong khi tôi là người chấp hành luật giao thông mà phải trở thành người phải chịu 50% lỗi.
Xin cảm ơn Luật sư và mong nhận được lời giải đáp.

>> Luật sư tư vấn Luật giao thông, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 14. Vượt xe Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 :

“2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.”

Theo những dữ kiện mà bạn cung cấp thì lỗi thuộc về xe gây ra tai nạn cho bạn. Vì khi có chướng ngại vật thì không được phép vượt xe trước theo khoản 2, Điều 14. Mặt khác, theo điểm đ, khoản 5, Điều 14 quy định đối với những đoạn đường mà ở đó thời tiết hoặc không đảm bảo an toàn cho việc vượt xe thì không được phép vượt. Đoạn đường của bạn tuy thời tiết không đề cập đến chúng tôi giả thiết không vấn đề gì cần nói, tuy nhiên nó có chướng ngại vật tức là không đảm bảo an toàn cho việc vượt xe. Do đó khi xe bên vượt xe bạn trong khi phía trước là chướng ngại vật là vi phạm quy định của luật giao thong đường bộ. Việc cảnh sát giao thoông vẽ vạch sơn như vậy là không khách quan và đúng với quy định của pháp luật. Bạn hoàn toàn không có lỗi trong tình huống này.

Bạn có quyền kiến nghị về Quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của CSGT nếu bạn có căn cứ cho rằng, quyết định hoặc hành vi đó xâm phạm đến quyền lợi của bạn.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi 1900.6162.

>> Xem thêm:  Hợp đồng tặng cho xe máy có bắt buộc công chứng không ? Mua bán xe máy cũ

5. Mức xử phạt vi phạm lĩnh vực giao thông đường bộ ?

Xin chào luật sư, Xin cho tôi hỏi trong nghị định 34 và mới nhất là 71(bổ sung) thì công an xã và thị trấn có được quyền tuần tra trên đường tỉnh lộ. và người điều khiển xe đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi điều khiển xe trên 50cm khối thì sẽ bị phạt hành chính là bao nhiêu ?
Xin cho tôi văn bản chính thức về mức phạt cũng như hình thức sử lý của nghị định.
Người gửi: Đào Đức Tuyến

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Theo điểm a, khoản 4, Mục 5, Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định như sau: “Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên”.

Như vậy, đối với trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe máy trên 50cm3 sẽ bị xử phạt từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng.

Ý kiến thứ hai:

Căn cứ pháp lí:

- Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;

- Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/09/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định só 34/210/NĐ-CP;

- Nghị Định số 27/2010/NĐ-CP Quy định việc huy động các lực lượng Cảnh sát khác và Công an xã phối hợp với Cảnh sát giao thông đường bộ tham gia tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong trường hợp cần thiết.

- Thông tư số 47/2011/TT-BCA quy định chi tiết thi hành nghị định số 27/2010/NĐ-CP

Thứ nhất về vấn đề bạn hỏi: công an xã và thị trấn có được quyền tuần tra trên đường tỉnh lộ ?

Công an xã được quyền xử phạt xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền khi tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà không có Cảnh sát giao thông đường bộ đi cùng. Tuy nhiên Công an xã chỉ tham gia vào việc tuần tra, kiểm soát trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi có Quyết định hoặc Kế hoạch huy động của cấp có thẩm quyền.

Trường hợp không có lực lượng Cảnh sát giao thông đi cùng thì Công an xã thực hiện việc tuần tra, kiểm soát theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Khoản 4, Điều 7 Thông tư số 47/2011/TT-BCA quy định:

Lực lượng Công an xã chỉ được tuần tra, kiểm soát trên các tuyến đường liên xã, liên thôn thuộc địa bàn quản lý và xử lý các hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông sau: điều khiển xe mô tô, xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm, chở quá số người quy định, chở hàng hóa cồng kềnh; đỗ xe ở lòng đường trái quy định; điều khiển phương tiện phóng nhanh, lạng lách, đánh võng, tháo ống xả, không có gương chiếu hậu hoặc chưa đủ tuổi điều khiển phương tiện theo quy định của pháp luật và các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ như họp chợ dưới lòng đường, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông. Nghiêm cấm việc Công an xã dừng xe, kiểm soát trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ.

Thứ hai, về câu hỏi: người điều khiển xe đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi điều khiển xe trên 50cm3 thì sẽ bị phạt hành chính là bao nhiêu ?

Căn cứ vào Điều 24, Nghị định số 34/2010/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 71/2012/NĐ-CP thì: Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: “Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xilanh từ 50 cm 3 trở lên”.

Trân trọng !

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mẫu giấy đăng ký xe mới năm 2020 và Hướng dẫn đăng ký sang tên xe