- 1. Nguyên nhân hình thành Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
- 2. Cấu trúc Bộ luật Hình sự Việt Nam (năm 1999)
- a. Cấu trúc của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)
- b. Nhận xét Bộ luật hình sự (năm 1999) so với Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam
- 3. Khái quát những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự (năm 1999)
- 4. Cấu trúc chương của Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
- 5. Các chương mới của Bộ luật hình sự (năm 1999) so với bộ luật trước
- 6. Nhận xét về sựu phân bố các chương của Bộ luật hình sự (năm 1999)
Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, so Với cấu trúc của Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) thì Bộ luật hình sự (năm 1999) có những điểm nào khác biệt? Luật sư hãy phân tích cho tôi hiểu rõ hơn về cấu trúc Bộ luật hình sự (năm 1999)?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Nguyên nhân hình thành Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
Chúng ta sẽ đề cập những vấn đề cơ bản, những điều mới và khác khi so sánh với Phần chung Bộ luật Hình sự trước đó (năm 1985) và đồng thời sẽ chỉ rõ những điểm vẫn còn hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp của các quy phạm trong Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999).
Với Bộ luật Hình sự trước của Việt Nam (năm 1985) sau hơn 14 năm thi hành (từ ngày 01/01/1986 đến ngày 01/7/2000) qua bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm: Năm 1989, năm 1991, năm 1992 và năm 1997) đã thực sự phát huy hiệu quả to lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn quyết định về mặt lập pháp hình sự trong công cuộc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ở Việt Nam.
Tuy nhiên, để đáp ứng kịp thời việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mới hình thành và phát triển (nói chung), cũng như thực tiễn phòng và chống tội phạm (nói riêng) trong giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước nên pháp luật hình sự thực định Việt Nam đã được pháp điển hóa lần thứ hai.
Chính vì vậy, sau một thòi gian soạn thảo, vào ngày họp cuối cùng (vào ngày 21/12/1999) tại kỳ họp Quốc hội thứ 6 (từ ngày 18/11 đến ngày 21/12/1999) Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật Hình sự Việt Nam (năm 1999), đồng thời Bộ luật này đã chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2000 kéo dài trong 17 năm và chỉ hết hiệu lực kể từ ngày 01/01/2018 (sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 hiện hành chính thức có hiệu lực thi hành).
2. Cấu trúc Bộ luật Hình sự Việt Nam (năm 1999)
a. Cấu trúc của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985)
Sau khi có hiệu lực thi hành (kể từ ngày 01/01/1986), nếu tính đến khi thông qua Bộ luật Hình sự của năm 1999 thì Nhà nước đã ban hành 04 đạo luật để sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự (năm 1985) vào các năm 1989 (liên quan đến 36 điều, bổ sung 01 điều), năm 1991 (liên quan đến 25 điều, bổ sung 01 điều), năm 1992 (liên quan đến 21 điều) và năm 1997 (bổ sung 22 điều, trong đó 17 điều hoàn toàn mới, 02 điều bị bãi bỏ và được thay thế bằng 05 điều mới).
Vào ngày 27/6/1985, sau gần 10 năm được soạn thảo (bắt đầu từ cuối năm 1975) Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VII và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986 với tư cách là nguồn trực tiếp duy nhất của pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa tại thòi điểm đó.
Về cơ bản Phần chung Bộ luật Hình sự này đã thừa kế và tiếp tục phát triển (ở cấp độ cao hơn) nhiều chế định thuộc Phần chung pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ 40 trước đó (kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất).
Chính Bộ luật Hình sự đầu tiên này đã kịp thời điều chỉnh về mặt pháp lý hình sự các quan hệ xã hội tồn tại và đáp ứng yêu cầu của công cuộc phòng và chống tội phạm trong suốt 14 năm nó được thi hành (từ đầu năm 1986 đến hết năm 1999), qua 04 lần sửa đổi, bổ sung bằng 04 đạo luật vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997 vối tổng cộng tất cả là 301 điều (sau lần sửa đổi, bổ sung cuối cùng vào năm 1997).
Nếu tính đến khi pháp luật hình sự thực định Việt Nam được pháp điển hóa lần thứ hai (năm 1999), thì Bộ luật Hình sự đầu tiên của đất nước đã trải qua 04 lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm, đó là năm 1989, vào năm 1991, năm 1992 và năm 1997) liên quan đến các quy phạm của Bộ luật Hình sự (năm 1985). Riêng đối với Phần chung Bộ luật Hình sự này của Đất nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã trải qua 04 lần sửa đổi, bổ sung đã liên quan đến 12 điều.
- Lần thứ nhất (vào năm 1989) có 04 điều (Điều 23, điều 41, điều 44 và điều 53 của Bộ luật);
- Lần thứ hai (sửa đổi, bổ sung vào năm 1991) bao gồm có 04 điều (đó là các điều 28, điều 31, điều 42 và điều 69).
- Lần thứ ba (Sửa đổi, bổ sung vào năm 1992) được sửa đổi, bổ sung 03 điều (đó là điều 23, điều 33 và điều 44 của Bộ luật).
- Lần thứ tư (Sửa đổi, bổ sung vào năm 1997) trong đó đã sửa đổi, bổ sung 01 điều (đó là điều 39 của Bộ luật).
Như vậy, với tư cách là một văn bản pháp luật hình sự thực định mang tính tổng hợp đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước nhà, Bộ luật Hình sự (của năm 1985) đã được xây dựng một cách khoa học theo cấu trúc (cơ cấu) gồm hai phần lớn, đó là Phần chung và Phần các tội phạm (tức là Phần riêng) với sự phân chia thành 21 chương, 301 điều (sau khi đã qua 04 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm như năm 1989, năm 1991, năm 1992 và vào năm 1997).
b. Nhận xét Bộ luật hình sự (năm 1999) so với Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam
Nếu so sánh với Bộ luật Hình sự (năm 1985), tại thời điểm được thông qua cơ cấu của Bộ luật Hình sự (năm 1999) gồm 24 chương, trong đó có 10 chương trong Phần chung với 77 điều (so với bộ luật trước đó thì bộ luật này đã tăng lên 6 điều) và 14 chương trong Phần các tội phạm với 267 điều (tăng lên 35 điều so với bộ luật trước đó), với tổng cộng tất cả là 344 điều.
3. Khái quát những lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự (năm 1999)
Sau 10 năm thi hành Bộ luật (thi hành kể từ ngày 01/7/2000 đến giữa tháng 6/2009), ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (năm 1999) thì việc sửa đổi, bổ sung chỉ liên quan đến Điều 69 trong Phần chung, còn lại chủ yếu liên quan đến một số điều trong Phần riêng.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã bổ sung thêm 13 cấu thành tội phạm mới vào Bộ luật Hình sự (năm 1999) (vốn đã có 344 điều trước đó) và tăng tổng số tất cả các điều trong hệ thông cả hai phần (Phần chung và Phần riêng) của pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) (tính từ sau khi được sửa đổi, bổ sung lần cuối cùng và là duy nhất vào năm 2009 đến thời điểm thông qua Bộ luật Hình sự thứ ba vào năm 2015) lên thành tổng số 357 điều.
4. Cấu trúc chương của Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
Việc phân tích cấu trúc các chương và các điều của hệ thông Phần chung pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã cho thấy rằng so với cấu trúc của hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) trước đây thì ở một chừng mực nhất định nào đó (chứ chưa hoàn toàn) nhà làm luật đã có sự sắp xếp lại theo hướng ghi nhận riêng biệt từng chương (hoặc từng điều) tương ứng theo từng chế định độc lập (hoặc khái niệm cơ bản) của luật hình sự.
Ví dụ như: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Chương IV), quyết định hình phạt (Chương VII), xóa án tích (Chương IX), quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định (Điều 47), quyết định hình phạt trong việc chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tức hoạt động phạm tội sơ bộ (Điều 52), quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53),...
Chính vì triển khai việc sắp xếp lại theo hướng đã nêu trên nên so với Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985) thì cấu trúc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã tăng thêm hai chương trên tổng số là 10 chương mà trong đó có 04 chương mới.
5. Các chương mới của Bộ luật hình sự (năm 1999) so với bộ luật trước
Như chúng ta vừa nghiên cứu và phân tích, do việc sắp xếp theo hướng đã nêu trên nên so với Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985) nên cấu trúc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã tăng thêm hai chương trên tổng số là 10 chương mà trong đó có 04 chương mới. Cụ thể bốn chương mới đó gồm những chương sau:
a. Chương IV “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự” (trên cơ sở tách ra 04 điều liên quan đến hai chế định này từ Chương VI “Việc quyết định hình phạt, miễn và giảm hình phạt” thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1985).
b. Chương VII “Quyết định hình phạt” (trên cơ sở tách ra 03 điều liên quan đến chế định quyết định hình phạt từ Chương VI thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985)).
c. Chương VIII “Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” (trên cơ sở tách ra 06 điều liên quan đến 03 chế định này từ Chương VI thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985) và bổ sung thêm hai điều 61-62 mới).
d. Chương IX “Xóa án tích” (trên cơ sở tách ra và giữ nguyên 05 điều liên quan đến chế định án tích cũng từ Chương VI thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985)).
6. Nhận xét về sựu phân bố các chương của Bộ luật hình sự (năm 1999)
Theo Bộ luật hình sự, nhà làm luật đã có sự phân bố lại số lượng các chương được đánh theo số thứ tự từ đầu đến cuối của toàn Bộ luật chứ không phải tách riêng theo số thứ tự từ đầu đến cuối của Phần chung, rồi sau đó lại quay lại từ đầu đến cuối của Phần riêng (như trong Bộ luật Hình sự (năm 1985)).
Đồng thời, nhà làm luật cũng đã cụ thể hóa rõ hơn nội dung của nguyên tắc hiến định về sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật trong quy phạm được bổ sung tại đoạn 1 khoản 2 Điều 3 “Nguyên tắc xử lý” Bộ luật.
Ở một chừng mực nhất định nào đó, nhà làm luật đã sắp xếp riêng từng chương (hoặc từng điều) riêng biệt theo từng chế định độc lập (hoặc khái niệm cơ bản) của Bộ luật Hình sự (năm 1999) như:
- Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Chương IV);
- Quyết định hình phạt (Chương VII);
- Xóa án tích (Chương IX);
- Quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định (Điều 47);
- Quyết định hình phạt trong hoạt động phạm tội sơ bộ, tức là chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (Điều 52);
- Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53),...
Trân trọng!