1. Cha mẹ có lương hưu có được giảm trừ gia cảnh hay không?

Giảm trừ gia cảnh là số tiền được khấu trừ trực tiếp từ thu nhập cá nhân của người nộp thuế trước khi tính thuế. Đây là một chính sách được quy định theo Luật thuế thu nhập cá nhân, nhằm áp dụng với những người có thu nhập cao, vượt quá một ngưỡng nhất định so với mức trung bình trong xã hội.

Mức giảm trừ gia cảnh cụ thể được xác định tùy thuộc vào từng trường hợp và theo quy định của pháp luật. Chủ yếu, giảm trừ này áp dụng cho hai đối tượng chính:

- Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người chịu thuế thu nhập cá nhân.

- Giảm trừ gia cảnh cho những người phụ thuộc vào người nộp thuế, tức là những người mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc.

Điều kiện để hưởng giảm trừ gia cảnh cũng được quy định rõ ràng theo quy định của pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của chính sách giảm trừ, đồng thời tối ưu hóa ảnh hưởng đối với những người có thu nhập cao, giúp duy trì sự cân đối trong việc thu thuế thu nhập cá nhân.

Cha mẹ của người nộp thuế thuộc đối tượng người phụ thuộc và sẽ được giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật nếu đáp ứng các điều kiện chi tiết như sau, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 của Thông tư 111/2013/TT-BTC:

* Nếu bố mẹ trong độ tuổi lao động, họ phải đáp ứng các điều kiện sau:

   - Không có thu nhập hoặc thu nhập bình quân tháng trong năm từ mọi nguồn (bao gồm cả tiền lương hưu) không vượt quá 1.000.000 đồng.

   - Bị khuyết tật và không có khả năng lao động, bao gồm những trường hợp thuộc đối tượng điều chỉnh theo pháp luật về người khuyết tật, như những người mắc bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn, và các trường hợp tương tự.

* Nếu bố mẹ nằm ngoài độ tuổi lao động, họ cũng phải đáp ứng điều kiện như sau: Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ mọi nguồn (bao gồm cả tiền lương hưu) không vượt quá 1.000.000 đồng.

Những điều kiện này được áp dụng để xác định quyền lợi giảm trừ gia cảnh cho cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ, cha chồng, mẹ chồng; cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế theo quy định của pháp luật.

Do đó, dựa trên mức thu nhập bình quân hàng tháng của bố mẹ và một số điều kiện khác, có thể áp dụng giảm trừ gia cảnh đối với bố mẹ có lương hưu. Nếu thu nhập bình quân không vượt quá 1 triệu đồng mỗi tháng và đáp ứng các điều kiện khác, việc đăng ký người phụ thuộc để hưởng giảm trừ gia cảnh là khả thi. Tuy nhiên, nếu tổng thu nhập, bao gồm cả lương hưu và các nguồn thu nhập khác, vượt quá 1 triệu đồng mỗi tháng trong năm, thì người phụ thuộc sẽ không đủ điều kiện để được đăng ký để hưởng giảm trừ gia cảnh.

 

2. Quy định về hồ sơ giảm trừ gia cảnh đối với cha mẹ

Dựa vào quy định tại điểm g khoản 1 của Điều 9 trong Thông tư 111/2013/TT-BTC, đối với cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng), cha dượng, mẹ kế, cha nuôi hợp pháp, mẹ nuôi hợp pháp, hồ sơ chứng minh người phụ thuộc bao gồm các giấy tờ sau:

- Bản chụp Chứng minh nhân dân.

- Các giấy tờ hợp pháp để xác định mối quan hệ của người phụ thuộc với người nộp thuế, như bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu), giấy khai sinh, hoặc quyết định công nhận mối quan hệ cha, mẹ, con của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Trong trường hợp người phụ thuộc nằm trong độ tuổi lao động, ngoài các giấy tờ đã nêu, hồ sơ cần bổ sung thêm giấy tờ chứng minh tình trạng khuyết tật và không có khả năng lao động. Điều này có thể được chứng minh qua bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật, cùng với bản chụp hồ sơ bệnh án đối với người mắc các bệnh không có khả năng lao động như AIDS, ung thư, suy thận mãn, và các trường hợp tương tự.

 

3. Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh đối với cha mẹ như thế nào?

Theo quy định tại điểm c khoản 1 của Điều 9 trong Thông tư 111/2013/TT-BTC, nguyên tắc giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc được mô tả như sau:

- Người nộp thuế sẽ được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc khi đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.

- Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế cho người phụ thuộc và tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm, bắt đầu từ thời điểm đăng ký. Đối với người phụ thuộc đã đăng ký giảm trừ gia cảnh trước ngày 01/10/2013, họ sẽ tiếp tục được giảm trừ gia cảnh cho đến khi được cấp mã số thuế.

- Trong trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế, giảm trừ này sẽ được tính kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc.

- Đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh là chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế. Quá thời hạn này, không có giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó.

- Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trong trường hợp có nhiều người nộp thuế chia sẻ người phụ thuộc chung, họ sẽ tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh cho một người nộp thuế cụ thể.

 

4. Có giới hạn số người phụ thuộc để được giảm trừ gia cảnh?

Tại điểm c của Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC được quy định như sau: Các khoản giảm trừ theo hướng dẫn tại điều này đều được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế của cá nhân trước khi tính toán thu nhập thuế từ các nguồn như tiền lương, tiền công, hoặc từ hoạt động kinh doanh. Cụ thể, quy định như sau: Mỗi người phụ thuộc chỉ được áp dụng giảm trừ một lần và chỉ đối với một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trong trường hợp nhiều người nộp thuế có cùng người phụ thuộc và chịu trách nhiệm nuôi dưỡng, thì các bên liên quan có thể tự thỏa thuận và đăng ký giảm trừ gia cảnh cho một người nộp thuế duy nhất.

Theo quy định, mỗi người phụ thuộc chỉ được áp dụng giảm trừ một lần đối với một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trong tình huống khi nhiều người nộp thuế chia sẻ cùng một người phụ thuộc và có trách nhiệm nuôi dưỡng, người nộp thuế có thể tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế cụ thể, mà không bị ràng buộc về số lượng người phụ thuộc tối đa. Điều này có nghĩa là không có hạn chế về số lượng người phụ thuộc tối đa mà một người lao động có thể đăng ký để được hưởng giảm trừ gia cảnh. Đối với người phụ thuộc, chỉ cần đáp ứng các điều kiện quy định và thuộc đối tượng được giảm trừ, họ sẽ được áp dụng giảm trừ gia cảnh.

 

5. Mức giảm trừ gia cảnh là bao nhiêu?

Theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14, có sự điều chỉnh về mức giảm trừ gia cảnh, thay đổi có hiệu lực từ ngày 01/07/2020, như sau:

Trước ngày 01/07/2020, mức giảm trừ được xác định như sau:

- Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.

Từ ngày 01/07/2020, mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh như sau:

- Mức giảm trừ gia cảnh đối với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng.

Đối với việc kê khai thuế và tạm nộp thuế thu nhập cá nhân từ tháng 7/2020 hoặc từ quý 3 năm 2020, chỉ khiến mới có thể áp dụng mức giảm trừ mới từ ngày 01/07/2020 như đã nêu trên.

Bài viết liên quan: Mẫu đơn xin xác nhận bố mẹ không có thu nhập để giảm trừ gia cảnh 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về vấn đề: Cha mẹ có lương hưu có được giảm trừ gia cảnh không? Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào về mặt pháp lý, Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!