1. Giảm trừ gia cảnh áp dụng cho đối tượng nào?
Giảm trừ gia cảnh được hiểu là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế thuế thu nhập cá nhân trước khi tính thuế đối với các thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công theo quy định pháp luật của người nộp thuế là cá nhân cư trú. Giảm trừ gia cảnh hằm vào những người có thu nhập cao đến một ngưỡng nhất định so với mặt bằng chung của xã hội, Nhà nước đã quy định gia cảnh khi thuộc một số trường hợp nhất định.
Giảm trừ gia cảnh sẽ áp dụng giảm trừ cho hai đối tượng:
- Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người chịu thuế thu nhập cá nhân. Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người chịu thuế được hiểu là người nộp thuế được hưởng khi đăng kê khai thuế thu nhập cá nhân.
- Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc vào người nộp thuế.Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc chỉ phát sinh khi người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế cho các đối tượng phụ thuộc bao gồm:
+ Con bao gồm con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ, con riêng của chồng, con ngoài giá thú;
+ Chồng hoặc vợ của người nộp thuế;
+ Cha, mẹ bao gồm cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha mẹ chồng, cha mẹ vợ, cha dượng, mẹ kế;
+ Các cá nhân khác bao gồm anh, chị, em ruột, ông, bà nội ,ngoại, cô, dì, chú, bác ruột, cháu ruột (con của anh, chị, em ruột) và người trực tiếp phải nuôi dưỡng khác theo quy định.
2. Cha mẹ bao nhiêu tuổi thì được giảm trừ gia cảnh?
Căn cứ vào các điểm d, đ khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân thì người phụ thuộc bao gồm các đối tượng như cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế được giảm trừ gia cảnh khi đáp ứng các điều kiện dưới đây:
- Có xác nhận về việc các cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn trong Thông tư 111/2013/TT-BTC;
- Đối với người trong tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
+ Bị khuyết tật, không có khả năng lao động;
+ Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân hàng tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.
- Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.
Như vậy, khi xét về điều kiện để cha mẹ có thể được giảm trừ gia cảnh khi con nộp thuế thu nhập cá nhân thì sẽ có 02 trường hợp như sau:
Trường hợp 1: Cha mẹ của đối tượng nộp thuế vẫn thuộc độ tuổi lao động
Trong trường hợp này, để được giảm trừ gia cảnh thì cha mẹ của người nộp thuế phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây:
- Cha mẹ của đối tượng nộp thuế là người bị khuyết tật và không có khả năng lao động;
- Cha mẹ của đối tượng nộp thuế không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
Trường hợp thứ hai, cha mẹ của đối tượng nộp thuế không thuộc độ tuổi lao động
Theo quy định của pháp luật thì trong trường hợp này, cha mẹ của người nộp thuế phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.
Để xác định xem cha mẹ của đối tượng nộp thuế có thuộc độ tuổi lao động hay không thì phải căn cứ vào độ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam. Căn cứ vào khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019 thì độ tuổi nghỉ hưu trong điều kiện bình thường được quy định như sau: Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.
Theo đó, độ tuổi nghỉ hưu (điều kiện để xác định người lao động ngoài độ tuổi lao động) trong điều kiện bình thường của người lao động được xác định vào năm 2023 là: đối với lao động nữ là đủ 56 tuổi; đối với lao động nam là đủ 60 tuổi 9 tháng.
Vì vậy, tại trường hợp 02 này, điều kiện để cha mẹ của người nộp thuế thu nhập cá nhân được giảm trừ là:
- Cha, mẹ thỏa mãn độ tuổi nghỉ hưu nêu trên.
- Cha mẹ phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm không vượt quá 01 triệu đồng từ tất cả các nguồn thu (bao gồm tiền lương, tiền công, ...).
Ngoài ra, nếu cha mẹ của người nộp thuế thu nhập cá nhân có thể có tuổi nghỉ hưu thấp hơn mức tuổi trong điều kiện bình thường nhưng không quá 05 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bên cạnh đó, cha mẹ của đối tượng nộp thuế có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn so nhưng không quá 05 tuổi so với điều kiện bình thường trừ trường hợp pháp luật có quy định khác nếu có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn.
Tóm lại, độ tuổi lao động không phải là yếu tố duy nhất quyết định xem cha mẹ của người nộp thuế thu nhập cá nhân có rơi vào đối tượng được giảm trừ, miễn trừ gia cảnh khi nộp thuế hay không mà còn phải xem xét đồng thời những điều kiện khác nữa. Có thể nói, cha mẹ trong độ tuổi nào thì con là người nộp thuế thu nhập cá nhân vẫn có khả năng nhận được giảm trừ gia cảnh nếu thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật.
3. Hồ sơ đăng ký người phụ thuộc là cha mẹ
Người nộp thuế thu nhập cá nhân được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, cụ thể ở đây là cha mẹ nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế, đã nộp hồ sơ đăng ký người phụ thuộc là cha mẹ. Do đó, ngoài việc đăng ký thuế thông thường, để được giảm trừ với đối tượng người phụ thuộc, người nộp thuế cần chuẩn bị hồ sơ đăng ký người phụ thuộc bao gồm:
- Bản đăng ký người phụ thuộc theo mẫu của Bộ Tài chính;
- Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc là cha mẹ của đối tượng nộp thuế.
Theo hướng dẫn tại Công văn 52118/CT-TTHT ngày 28/10/2022 thì hồ sơ chứng minh người phụ thuộc thực hiện theo hướng dẫn tại tiết g.3 điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, cụ thể bao gồm:
- Bản chụp Chứng minh nhân dân.
- Giấy tờ hợp pháp để xác định mối quan hệ của người phụ thuộc với người nộp thuế như bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu), giấy khai sinh quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Trường hợp cha mẹ của đối tượng nộp thuế vẫn trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêu trên, hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ chứng minh là người khuyết tật, không có khả năng lao động như:
+ Bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về người khuyết tật đối với người khuyết tật không có khả năng lao động.
+ Bản chụp hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,..).
Bên cạnh đó, Công văn 52118/CT-TTHT còn đề cập thêm hồ sơ đăng ký không có quy định phải lập bản kê khai về người trực tiếp nuôi dưỡng (mẫu 07/XN-NPT-TNCN tại Thông tư 80/2021/TT-BTC). Người nộp thuế phải cam kết và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin người phụ thuộc.
Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết về: Mức giảm trừ gia cảnh với thuế thu nhập cá nhân mới của Luật Minh Khuê.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.