1. Nỗ lực phòng tránh
Và này, thế nào là nỗ lực phòng tránh? Ở đây vị đệ tử khơi dậy ý chí, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn, ra sức để phòng tránh các ác, các bất thiện pháp chưa sinh, khiến chúng không được sinh khởi.
Như vậy, khi nhận biết một hình ảnh với mắt, một âm thanh với tai, một mùi hương với mũi, một mùi vị với lưỡi, một xúc chạm với thân, một ý niệm với tâm, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, mà khi các giác quan không được kiềm chế, khiến cho các mong mỏi muộn phiền, các ác bất thiện pháp được khởi lên, vị ấy phòng tránh những nguyên nhân ấy, và kiềm chế, phòng hộ các giác quan của mình.
Nhờ sở hữu sự “phòng hộ của các giác quan” cao quý này, vị ấy được hưởng an lạc, nội tâm không có lầm lỗi.
Như vậy gọi là nỗ lực phòng tránh.
2. Nỗ lực dứt bỏ
Và này, thế nào là nỗ lực dứt bỏ? Ở đây vị đệ tử khơi dậy ý chí, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn, ra sức để dứt bỏ các ác, các bất thiện pháp đã sinh, khiến chúng được diệt trừ.
Vị ấy không chấp nhận bất kỳ suy nghĩ nào về tham dục, sân hận, hay bất kỳ các ác, các bất thiện pháp nào mà có thể đã được khởi lên. Vị ấy dứt bỏ, xua đuổi, và diệt trừ chúng, làm cho chúng được biến mất.
3. Năm phương pháp loại trừ những suy nghĩ xấu
Nếu ở đây, vị đệ tử khi đang chú tâm và để ý đến một đối tượng nào đó, và bởi thế mà khởi lên ở vị đệ tử những suy nghĩ xấu ác và bất thiện liên hệ đến tham sân si, thì vị đệ tử khi ấy cần làm như sau: (1) Chú tâm và để ý đến một đối tượng khác, trái ngược với đối tượng kia, liên hệ đến thiện và tốt lành. (2) Quán chiếu về những khổ sở và tai ương của các suy nghĩ này: "Đúng thực làm sao! Bất thiện là những suy nghĩ này! Tội lỗi là những suy nghĩ này! Mang đến khổ đau là những suy nghĩ này!"; (3) Không để ý và quan tâm một chút nào đến những suy nghĩ này; (4) Chú tâm để làm ngưng lặng các nguyên nhân tạo tác của những suy nghĩ này; (5) Nghiến răng chặt họng, vị ấy dùng hết sức chí để đè nén, kiềm chế, và nhổ tận những suy nghĩ này.
Như vậy gọi là nỗ lực dứt bỏ.
4. Nỗ lực phát triển
Và này, thế nào là nỗ lực phát triển? Ở đây vị đệ tử khơi dậy ý chí, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn, ra sức để phát triển các thiện pháp chưa sinh, làm cho chúng được sinh khởi.
Như vây vị ấy phát triển bảy "Chi Phần Giác Ngộ" (thất giác chi), dựa vào viễn ly, buông xả, lặng tắt, và đưa đến giải thoát, đó là: “Chánh Niệm", "Phân Biệt các Pháp", "Tinh Tấn", "Niềm Vui", "Khinh An", "Định Tĩnh", và "Quân Bình".
Như vậy gọi là nỗ lực phát triển.
5. Nỗ lực gìn giữ
Và này, thế nào là nỗ lực gìn giữ? Ở đây vị đệ tử khơi dậy ý chí, nỗ lực, cố gắng, tinh tấn, ra sức để gìn giữ các thiện pháp đã sinh, làm cho chúng không bị mất đi, làm cho chúng được duy trì, được tăng trưởng, được hoàn toàn phát triển.
Chẳng hạn, vị ấy giữ tâm của mình vào một đề mục thiền định thuận lợi đã được khởi lên, như là: hình tưởng về bộ xương, hình tưởng về tử thi nhúc dòi, tử thi xanh bầm, tử thi thối rữa, tử thi nứt toác, tử thi trương phình.
Như vậy gọi là nỗ lực gìn giữ.
Thực sự, với vị đệ tử đã có được lòng tin đối với Giáo Pháp, đã thâm nhập được lời dạy của bậc Đạo Sư, sẽ là phải khi nghĩ: "Dầu thịt nát xương tan, dầu gân khô máu cạn; cho đến mãi chừng nào, ta còn chưa chứng đạt; thì những gì cần làm, với kiên trì tinh tấn; thì những gì cần làm, với nỗ lực trượng phu; Ta sẽ làm tất cả! Ta sẽ không từ bỏ!"
Như vậy gọi là Chánh Tinh Tấn.
Phòng tránh và dứt bỏ, Phát triển và gìn giữ: Bốn loại nỗ lực này, Được người thân của Trời, Chính Ngài đã thuyết giảng, Những ai với nhiệt tâm, Sẽ đoạn tận khổ đau.
Nguồn: Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)