1.  Đức Phật - một con người

Điều đặc biệt đầu tiên của Phật giáo, khác với các Tôn giáo khác, đó là: Người sáng lập ra Phật giáo không tự xưng mình là một vị ‹Thượng đế›, một vị ‹Trời›, một ‹Đấng Tiên Tri›, một ‹Sứ Giả của Thượng đế› hay một ‹Đấng Cứu Rỗi›. Đức Phật    là một con người, nhưng không phải là một người bình thường như mọi người. Đức Phật là một người phi thường không ai có thể so sánh được. Ngài chẳng bao giờ nói Ngài là đấng sáng tạo. Ngài cũng chẳng bao giờ nói Ngài là một con người, nhưng chúng ta biết rằng: Đức Phật là một con người bởi vì Ngài sinh ra bởi con người. Ngài sinh ra là một con người, Ngài sống như một con người, và Ngài chết như một con người. Một lần nọ, trên đường đi đến xứ Benares, Đức Phật gặp một đạo sĩ, Ngài trả lời với vị đạo sĩ đó rằng: Ngài là một vị A La Hán, có nghĩa là: Ngài là một chúng sinh hoàn hảo trên thế gian này. Và Ngài nói: “Ta là một vị thầy; không có vị nào trên ta; không có vị nào cao thượng hơn ta (Điều này có nghĩa Ngài là một vị thầy tốt đẹp nhất). Ta là kẻ độc nhất có sự hiểu biết đúng đắn tất cả những gì mà ta cần biết, và những hiểu biết đó do chính ta tự biết. Ta đã trở nên an tịnh, mát mẻ, nguội lạnh (Có nghĩa là đã nguội lạnh hay thanh tịnh tất cả tham ái, hay phiền não trong tâm), và ta đã tận diệt tất cả mọi phiền não trong tâm.

Như vậy, Đức Phật đã loại trừ tất cả mọi phiền não trong tâm và Ngài trở thành an tịnh, tĩnh lặng, mát mẻ, nguội lạnh, Ngài không còn Tham Ái và Ngài biết được tất cả những gì cần phải biết. Ngài biết tất cả mọi sự và tự mình ngộ lấy không thầy  chỉ dạy.

 

2.  Không có kẻ sáng tạo

Đức Phật là một con người, nhưng Ngài là một con người có lòng bi mẫn vượt trội, trí tuệ vượt trội, và đức hạnh vượt trội hơn tất cả thần thánh. Phật giáo không chấp nhận có một vị ‘Thượng đế’ hay ‘Đấng Sáng Tạo’. Một điều quan trọng và đặc biệt là trong Phật giáo không có ‘Thượng đế’ hay ‘Đấng Sáng Tạo’. Hầu hết các Tôn giáo trên thế gian này đều chấp nhận có một đấng sáng tạo là ‘Thượng đế’, ‘Chúa Trời’, ‘Phạm Thiên’ hay một tên gì đó tương tự. Nhưng theo Phật giáo không có Đấng Sáng Tạo, do đó không có ai tạo ra những gì trên thế gian này cả. Thế giới vật chất có được tùy thuộc vào những định luật vật lý hay định luật tự nhiên. Chúng sinh đến với thế gian này theo luật Nghiệp Báo. Luật Nghiệp Báo cũng là định luật tự nhiên. Chúng sinh và vật vô tri đều tùy thuộc vào luật tự nhiên, sự vật vận hành một cách tự nhiên, không cần một tác nhân hay ‘Đấng Sáng Tạo’ nào cả.

 

3.  Không có những giáo thuyết huyền bí

Đặc tính thứ ba của Phật giáo là không có các giáo thuyết huyền bí hay bí mật nào. Trong Phật giáo, tất cả những lời giảng dạy của Đức Phật được rộng mở cho tất cả mọi người để họ phân tích, suy tư tìm hiểu. Trong Phật giáo không có các lời dạy hay giáo thuyết đặc biệt chỉ dành riêng cho đệ tử của Đức Phật thôi.

Một lần nọ có hai nhà sư xuất thân từ giai cấp Bà La Môn, một giai cấp cao trong bốn giai cấp ở Ấn Độ, đến xin Đức Phật cho họ viết ra các lời dạy của Đức Phật theo ngôn ngữ Vedic Sankrit. Ngôn ngữ Vedic Sankrit là một loại ngôn ngữ xưa cũ hơn Sankrit và rất khó học. Họ xin phép Đức Phật được chuyển các lời dạy của Đức Phật ra ngôn ngữ Vedic Sankrit bởi vì họ nghĩ rằng: các lời dạy của Đức Phật sẽ bị ô nhiễm hay bị hủy diệt bởi những người bình dân. Họ yêu cầu như vậy, bởi vì Giáo Pháp được Đức Phật được phổ biến trong cả giai cấp cao và giai cấp thấp. Họ sợ nếu những người giai cấp thấp học hỏi giáo pháp thì những người này sẽ hủy hoại Giáo Pháp. Nhất là một số các nhà sư xuất thân từ giai cấp Bà La Môn luôn luôn nghĩ rằng: nếu giai cấp thấp học hỏi những lời dạy của Đức Phật thì họ sẽ làm ô nhiễm hay hủy diệt những lời dạy của Đức Phật. Họ muốn những lời dạy của Đức Phật chỉ được dạy cho những người có học thức cao và giai cấp Bà La Môn, giai cấp được cho là cao hơn các giai cấp khác. Nhưng Đức Phật đã bác bỏ lời thỉnh cầu của họ và dạy rằng:

“Không nên chuyển đổi những lời dạy của Đức Phật thành ngôn ngữ Sankrit”.

Bởi vậy, người nào không nghe lời Đức Phật mà chuyển đổi những lời giáo huấn phổ thông của Ngài thành ngôn ngữ Sankrit là phạm giới cấm của Đức Phật (vì có các hành vi sai lầm). Như vậy, chuyển dịch những lời dạy của Đức Phật sang ngôn ngữ Sankrit là vi phạm giới luật Đức Phật đã đặt ra. Nếu chuyển đổi những lời dạy của Đức Phật vốn bằng ngôn ngữ phổ thông ra ngôn ngữ Sankrit thì sẽ khiến cho giáo pháp trở nên khó hiểu, và khiến cho mọi người gặp khó khăn trong việc học hỏi, hiểu biết các lời dạy của Đức Phật.

Tiếp theo đó Đức Phật dạy: “Ta cho ta phép các con được học hỏi những lời dạy của ta bằng chính ngôn ngữ của mình”.

Điều này có nghĩa là các bạn có thể nghiên cứu học hỏi những lời dạy hay giáo pháp của Đức Phật bằng chính ngôn ngữ của các bạn. Đó là lý do tại sao các bạn được học giáo pháp của Đức Phật bằng chính ngôn ngữ của mình, như chúng ta đang làm đây. Tôi học Giáo Pháp của Đức Phật bằng tiếng Myanmar, các bạn học bằng tiếng Việt, những người khác học bằng tiếng Anh. Như vậy, giáo pháp của Đức Phật dành cho tất cả mọi người chứ không phải cho một số ít người được lựa chọn.

Trong những ngày cuối cùng, trước khi Đức Phật nhập diệt, một ngày nọ, Đức Phật dạy Ānanda: “Này Ānanda, giáo pháp đã được Như Lai tuyên thuyết không có một sự phân biệt nào giữa giáo thuyết bí truyền và giáo thuyết công truyền”. Câu này có nghĩa là không có sự phân biệt giữa những lời dạy cho những người bên trong và những người bên ngoài. Không có sự phân biệt những   lời dạy cho tín đồ Phật giáo và những lời dạy cho những người không phải là tín đồ Phật giáo. Đức Phật không tạo ra một sự phân biệt nào như thế. Bởi vậy, những lời dạy của Đức Phật được áp dụng cho những người gần với Đức Phật - như những tín đồ Phật giáo, hay những người xa Đức Phật - như các người ở Tôn giáo khác hoặc không theo Tôn giáo nào. Những lời dạy của Đức Phật không đặc biệt dành riêng cho một nhóm thiểu số tuyển lựa nào. Những lời dạy của Đức Phật được áp dụng cho tất cả mọi người không phân biệt người bên trong hay người bên ngoài Phật giáo. Như vậy, những lời dạy của Đức Phật dành cho cả những người thân cận với Ngài lẫn những người không thân cận với Ngài.

Đức Phật dạy rằng: “Đức Phật không phải là vị thầy có bàn tay nắm lại” (đối với Giáo Pháp của Ngài). Một bàn tay nắm lại có nghĩa là gì? Một số các vị thầy có những lời dạy bí mật không dạy cho tất cả mọi người mà chỉ dạy cho các học trò của họ, những người gần gũi họ, những người rất thân mật và thương yêu của họ, và những người đem lại lợi ích cho họ. Đó là những vị thầy có bàn tay nắm lại. Đức Phật không có thái độ như thế. Đức Phật dạy rằng: “Trong giáo pháp Như Lai, không bao giờ có bàn tay nắm lại”.

Một lần nọ Đức Phật dạy: “Những lời dạy chỉ tốt đẹp khi chúng được mở ra”. Bởi vậy, không có gì  bí mật hay bí truyền chỉ được dạy riêng cho một số người trong Giáo Pháp của Đức Phật.

Nguồn: Phật pháp căn bản (1) của Silananda do sư Khánh Hỷ soạn dịch