1. Thừa kế theo pháp luật

1.1 Theo pháp luật La Mã

- Thời cổ La Mã

Thừa kế theo pháp luật được tiến hành trong trường hợp người chết không để lại di chúc có giá trị hoặc có để lại di chúc nhưng người thừa kế theo di  chúc đã chết trước khi mở thừa kế, hoặc không có năng lực tiếp nhận di sản theo di chúc hoặc ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản.

Người thừa kế bắt buộc: những người đầu tiên được gọi để nhận di sản theo pháp luật là những người thân thuộc của người chết, sống dưới sự kiểm soát của người chết cho đến ngày mở thừa kế và trở thành những người có năng lực pháp luật sau khi người có di sản chết. Những người này bao gồm:

+ Con cái sống chung với người chết ( Nghĩa là trừ các con đã được thoát quyền được người khác nhận làm con nuôi hoặc con gái đã kết hôn theo chế độ cum manu)

Vợ của người chết mà kết hôn theo chế độ cum manu và các con dâu cum manu bà chồng chết trước người để lại di sản

+ Cháu nội trực hệ của người chết mà cha đã chết ( được gọi để nhận di sản với tư cách thừa kế thế vị)

Những người này là những người thừa kế bắt buộc họ không có quyền từ chối nhận di sản. Hơn nữa những người này do sống dưới một mái nhà với người có di sản nên coi như các đồng chủ sở hữu đối với tài sản thuộc di sản việc mở thừa kế có tác dụng khoảng định tư cách chủ sở hữu của họ đối với các tài sản liên quan.

Người thừa kế không bắt buộc: người chết có thể không có heredes sui, như trong trường hợp người độc thân hoặc tuyệt tự hay trong trường hợp người chết là phụ nữ. Khi đó di sản được giao cho người thân thuộc bên Nội gần nhất. Người này có thể là phụ nữ Nhưng phải là chị em gái cùng cha và mẹ hoặc ít nhất cùng cha. Những người này phải có quyền lựa chọn giữa nhận và không nhận di sản.

Người thừa kế mập mờ: Nếu không có người thân thuộc bên nội thì di sản thuộc về những người trong dòng họ. Thoạt đầu người ta nói rằng tất cả những người cùng họ sẽ cùng hưởng di sản. Đến một lúc nào đó thấy rằng quy định ấy quá bất tiện pháp quan gọi người cùng họ đến nhận di sản theo thứ tự từ gần nhất đến xa nhất. Quyền thừa kế của người cùng họ bị xóa bỏ vào cuối thời kỳ của chế độ Cộng Hòa nếu không có người thân thuộc được gọi theo pháp luật di sản được giao cho kho bạc( nghĩa là cho nhà nước).

- Thời kỳ cổ điển:

Cải cách của pháp quan: vào giai đoạn cuối của chế độ Cộng Hòa các pháp quan xây dựng một hệ thống pháp luật thừa kế trên cơ sở cải tiến luật viết đặc trưng bằng việc thừa nhận các hàng thừa kế theo pháp luật: Thứ nhất, di sản được chuyển giao ưu tiên cho tất cả các con của người chết, không phân biệt con sống chung và con đã ra riêng. Thứ hai, Nếu không có con thì di sản được giao cho những người thừa kế khác được chỉ định theo luật viết. Thứ ba, Nếu không có lỗi thì chọn những người thừa kế bên ngoại cho đến hàng thứ 7 trong trường hợp không còn ai thì di sản được giao cho vợ (chồng)

Các cải cách của Justinian: hệ thống thừa kế theo pháp luật justinian được xây dựng trên cơ sở quan hệ huyết thống. Người thừa kế theo pháp luật được xếp thành 4 hàng được gọi theo thứ tự, trong cùng một hàng Những Người Thừa Kế còn có thể được xếp theo bậc: những người ở bậc trên được ưu tiên nhận di sản so với những người ở bậc dưới. Các hàm bậc được xây dựng dựa theo mức độ gần gũi của mối quan hệ thân thuộc giữa người thừa kế và người chết :

+ Hàng thứ nhất: vùng có tất cả các con cháu trực hệ không phân biệt sống chung hay sống riêng với người chết, Cháu có thể được gọi để nhận di sản bằng con đường thừa kế thế vị và chia phần thụ hưởng theo Chi.

Hàng thứ hai: gồmcó cha mẹ ,ông bà nội ( ngoại)  và các anh,chị, em cùng cha mẹ với người chết, cha mẹ nhận di sản trước ông bà, Ông Bà được gọi trước cụ ông, cụ bà, những người thừa kế cùng được gọi để nhận di sản thừa một phần bằng nhau, con cháu của anh chị em có thể thế vị cha mẹ của mình và thừa kế theo Chi.

+  Hàng thứ ba: gồm các  anh, chị ,em cùng cha cùng mẹ với người chết

Hàng thứ tư: buồn những người thân buồn những người thân thuộc bằng hệ pháp được gọi theo thứ tự từ người phần nhắc đến người xa nhất cho đến hàng thứ Bảy

Nếu không có người thân thuộc thì di sản được giao cho vợ (chồng) của người chết. Vợ ( chồng), ngay cả trong trường hợp không được gọi để nhận di sản cũng có thể được hưởng một phần quyền lợi trong di sản nếu sống trong hoàn cảnh khó khăn, Phần này bằng ¼ di sản trong trường hợp người thân thuộc  được gọi để nhận di sản không phải là con của mình, bằng một phần của con, nhưng chỉ được hưởng hoa lợi, trong trường hợp ngược lại. Nếu không có vợ ( chồng), thì di sản được giao cho cơ quan thuế.

1.2. Theo bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015

- Người thừa kế:  Để xác định được người thừa kế cần xác định được rằng người để lại di sản có để lại di chúc hay không. nếu có di chúc thì người thừa kế sẽ được xác định theo di chúc. Nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp , không phát sinh hiệu lực pháp luật thì người thừa kế sẽ được xác định theo quy định của pháp luật theo thứ tự sau đây;

Theo quy định tại Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

 b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần thừa kế bằng nhau. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc ( kỳ phần bắt buộc) được quy định tại Điều 651 BLDS. tuy nhiên cũng có một số trường hợp kể cả thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật thì họ cũng không có quyền hưởng thừa kế tại Điều 643 BLDS. Người thừa kế có thể là cá nhân hoặc cơ quan tổ chức.

- Những trường hợp thừa kế theo pháp luật Quy định tại điều 650 BLDS 2015, được áp dụng trong trường hợp sau đây:
+ Không có di chúc;
+ Di chúc không hợp pháp
+ Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm  với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

- Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

 Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
 - Thừa kế thế vị:  Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

- Quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ: Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật dân sự 2015.
- Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế: Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật dân sự 2015.
- Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác:
+ Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
+ Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
+ Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

2. Thừa kế theo di chúc

2.1. Theo luật La Mã

Theo Luật La Mã thì hình thức di chúc được công nhận đó là Di chúc lập trước Đại hội đồng nhân dân, Di chúc quân sự và Di chúc chuyển giao tài sản qua trung gian. Cụ thể như sau:

+ Di chúc lập trước Đại hội đồng nhân dân đó là Di chúc được lập trước sự chứng kiến của Đại hội đồng chính trị của các công dân La Mã, dưới sự chủ tọa của các Đại Nguyên lão. Loại di chúc này chỉ được lập trong thời gian hai kỳ đại hội hàng năm vào 24/3 và 24/5.

+ Di chúc quân sự là Di chúc do công dân La Mã đang lâm chiến lập phải được sự chứng kiến của đồng đội. Trong xã hội La Mã, độ tuổi quân sự của người La Mã tối đa là 46 do đó di chúc quân sựu sẽ được lập không quá độ tuổi này.

+ Di chúc chuyển giao tài sản qua trung gian: Sau khi lập di chúc, người lập di chúc giao tài sản cho một người thi hành di chúc (familiae emptor) và người này chịu trách nhiệm phân phối tài sản cho những người thừa kế theo ý chí của người lập di chúc sau khi người đó chết. Việc chuyển giao tài sản được thực hiện đúng các thể thức mancipatio, tức là các thể thức chuyển quyền sở hữu thep hợp đồng đối với các tài sản quan trọng, đặc biệt là có sự hiện diện của các nhân chứng. Chính các nhân chứng trong thủ tục mancipatio đồng thời là người làm chứng cho việc lập di chúc. Familiae emptor trở thành chủ sở hữu các tài sản được chuyển giao với điều kiện giao lại các tài sản ấy cho người thừa kế sau khi người lập di chúc chết. Tóm lại, các loại di chúc nêu trên có tác dụng công khai ý chí của người có di sản liên quan đến việc chuyển giao tài sản của mình sau khi chết, nghĩa là không thể sửa đổi hoặc hủy bỏ. 

2.2. Bộ luật dân sự năm 2015

Hình thức di chúc được quy định tại Điều 627, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”

- Di chúc bằng văn bản bao gồm:

+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

+ Di chúc bằng văn bản có công chứng;

+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

- Di chúc miệng:

+ Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.

+ Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. 

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên tập)