1. Chế độ tổng thống là gì?

Chế độ tổng thống là hình thức chính thể tổ chức chính quyền, trong đó không chỉ nghị viện với tính cách là cơ quan đại biểu, cơ quan lập pháp cao nhất mà cả tổng thống với tính cách là người đứng đầu nhà nước đều do cử tri bầu ra, đối với tổng thống có thể do cử tri trực tiếp bầu ra như ở Pháp, liên bang Nga hoặc cử tri bầu ra đại cử tri và đại cử tri bầu tổng thống mà điển hình là Mĩ và một số nước Mĩ - Latinh.

2. Chế độ tổng thống ở Mỹ

Chế độ tổng thống có một số dạng thức khác nhau mà Mĩ là một dạng thức tiêu biểu, không chỉ vì nó ra đời đầu tiên trong xã hội tư sản mà còn có những điểm đặc trưng ở sự phân chia ba quyền có tính điển hình: quyển lập pháp cao nhất thuộc quốc hội gồm hai viện (hạ viện và thượng viện), quyền hành pháp cao nhất thuộc tổng thống còn quyển tư pháp cao nhất thuộc toà án tối cao. Với tính cách là người đứng đầu cơ quan hành pháp mà không có chức danh thủ tướng, tổng thống đồng thời là người đứng đầu nội các và bản thân nội các chỉ có vai trò như một cơ quan giúp việc. Nội các gồm các bộ trưởng do tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị và sự đồng ý của thượng viện. Tổng thống có những quyền hành rộng lớn về chính sách đối nội và đối ngoại, là tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, có quyền ra các văn bản dưới luật, có quyền phủ quyết các luật của quốc hội. Một dự án đã được hai viện thông qua với kết quả quá bán thì được chuyển đến tổng thống phê chuẩn và công bố. Trong trường hợp tổng thống phủ quyết thì được trả lại cho hai viện xem xét và nếu biểu quyết lại mà cả hai viện đều được quá 2/3 thông qua thì tổng thống bắt buộc phải công bố, trong trường hợp ngược lại thì xem như bị phủ định. Tổng thống Ÿ Rudøơven đã 631 lần sử dụng quyền phủ quyết mà chỉ có 9 trường hợp không vượt qua được biểu quyết lần hai của hai viện; tống thống Aixenhao từ 1953 đến 1958 đã 137 lần sử dụng quyền phủ quyết mà không lần nào bị hai viện vượt qua. Phủ quyết trở thành một thứ công cụ khá mạnh mẽ trong tay tổng thống, gây sức ép lên cả hai viện. Tổng thống và các thành viên chính phủ không phải chịu trách nhiệm trước hai viện. Tổng thống chỉ có thể bị bãi nhiệm theo trình tự điều tra luận tội (Impechmenn).

3. Mô hình tổng thống của Pháp

Mô hình tổng thống của Pháp lại có một số yếu tố của chế độ đại nghị. Ở đây, ngạch hành pháp, cùng với tổng thống còn có thủ tướng và thủ tướng đứng đầu chính phủ được gọi là hội đồng bộ trưởng. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng và theo đề nghị của thủ tướng bổ nhiệm các bộ trưởng, chủ toạ các phiên họp của hội đồng bộ trưởng, giải tán hạ viện sau khi tham khảo ý kiến của thủ tướng và chủ tịch hai viện.

4. Mô hình tổng thống ở Nga

Theo Hiến pháp Liên bang Nga thì Nga cũng là một nhà nước theo chính thể cộng hoà tổng thống với những nét riêng biệt, ngoài những nét chung, có khác với chính thể tổng thống của Mỹ và Pháp: cũng như ở Pháp, ở Nga, ngoài tổng thống, còn có thủ tướng với cách gọi chính thức là chủ tịch chính phủ. Nhưng theo Hiến pháp Liên bang Nga, tương tự như nội các thuộc Tổng thống Mỹ, chính phủ không chịu trách nhiệm trước ĐÐuma quốc gia, và thượng viện Nga (trừ quyền giám sát ngân sách). Sự mất tín nhiệm Chính phủ từ phía Đuma quốc gia hoàn toàn không bắt buộc Chính phủ phải từ chức, về mặt này, có khác với Pháp, vì tổng thống có quyển trong những trường hợp tương tự tuyên bố chính phủ từ chức và giải tán cả ĐÐuma Quốc gia. Như vậy, theo mô hình Nga, hiện hữu những ưu thế rõ ràng của quyền hành pháp tương tự như mô hình Mỹ cũng như sự kém sút của quyền lập pháp theo mô hình Pháp. Đồng thời, ở mô hình Nga thiếu vắng một số ưu thế mà theo mô hình Mỹ quyền lập pháp vốn rất cần đưa lại sự đối trọng với quyền hành pháp vốn có sức mạnh hùng hậu. Ở đây, cũng thiếu vắng một sự cân bằng cần thiết trong mối quan hệ tương tác giữa hành pháp và lập pháp và trở thành một trong những điểm yếu của mô hình Tổng thống Nga.

5. Đặc điểm của chế độ tổng thống

Về cơ bản, các chế độ tổng thống là những chế độ mà có một chính trị gia được bầu duy nhất làm đại diện cho cả nước và nhiệm kỳ của người đó không phụ thuộc vào sự ủng hộ của nhánh lập pháp.

Cũng có những nhà nước như Đức, Hungary và Ấn Độ có tổng thống nhưng lãnh đạo của họ là những bên tham gia tương đối nhỏ trong hoạch định chính sách. Ở đây, sự tồn tại của một tổng thống không nhất thiết có nghĩa đó là một nhà nước tổng thống; thật ra, các chế độ Đức, Hungary và Ấn Độ thường không được coi là chế độ tổng thống thực thụ. Như vậy, rõ ràng là có những biến thể chủ yếu trong chế độ tổng thống vì không phải tất cả tổng thống đều sở hữu những quyền lực vừa đề cập.

Trên thực tế, tổng thống có thể nắm trong tay bất cứ hỗn hợp nào của những công cụ sau: quyền bổ nhiệm, kiểm soát cuộc họp nội các, quyền phủ quyết, quyền phủ quyết những vấn đề thuộc ngành dọc, quyền kiểm soát chính sách đối ngoại, quyền đối với việc thành lập chính phủ, và quyền giải tán cơ quan hành pháp. Ngoài danh sách các quyền lực trên của tổng thống, còn có một cách khác để thảo luận hoặc phân loại những hệ thống đó.

6. Những điểm hấp dẫn và hàm ý của chế độ tổng thống

Trước khi nói đến những nguy hiểm tiềm ẩn của cách quản trị theo hệ thống tổng thống, cần phải xác định những nhân tố tích cực của hệ thống đó. Ở góc độ này, những ai nghiên cứu các thể loại chế độ đều nhấn mạnh ba khía cạnh cơ bản của các nhà nước tổng thống giúp chúng ta hiểu được sức hấp dẫn của nó với các chính trị gia trên toàn thế giới. Ba sức hút này gồm tính hiệu quả trong kết quả chính trị và quản trị, tính đại diện cho toàn bộ dân chúng, và đặc điểm kiểm soát và cân bằng đặc thù (hay kiềm chế và đối trọng) trong các chính phủ 

Tính hiệu quả là khía cạnh hấp dẫn của hầu hết các hệ thống tổng thống bởi vì thông tin được chuyển tới các cử tri. Đặc biệt, tính hiệu quả có nghĩa là các cử tri biết trước khi đi bỏ phiếu là chính phủ mới sẽ trông như thế nào. Điều đấy không có nghĩa là kết quả được sắp xếp trước mà chủ yếu là biết được các kịch bản có khả năng xảy ra nhiều nhất. Tính hiệu quả này cho phép cử tri có vô vàn thông tin khi họ quyết định ủng hộ ứng cử viên nào. Họ cũng biết rằng, nếu được bầu, ứng cử viên của họ phải theo đuổi những chính sách mà nhóm cử tri của ông ta hay bà ta ủng hộ mà không gặp nhiều trở ngại hay hạn chế. Các hệ thống đại nghị lại khác hẳn. Trong một số trường hợp, kịch bản đã mô tả ở trên có thể, và thật sự, xảy ra trong chế độ đại nghị. Nhưng phổ biến hơn là việc hình thành chính phủ liên minh. Trong trường hợp đó, hai hoặc nhiều đảng hơn hợp lại thành một liên minh. Do đó, đòi hỏi và kỳ vọng của mỗi đảng được nhào nặn trong quá trình thực hiện việc hình thành liên minh. Bởi vậy, nếu một cử tri ủng hộ một đảng bảo thủ, thì các chính sách được ưa thích của cử tri ấy có thể không thành hiện thực vì các đảng phải thỏa hiệp các vị trí của họ với nhau để có thể tham gia liên minh cầm quyền. Hơn nữa, một quan chức được bầu lên duy nhất (ví dụ: tổng thống) có thể khiến các cử tri dễ quy trách nhiệm hơn cho các quan chức chính phủ. Đôi khi, các tổng thống có thể bị đổ tội nếu phát sinh các vấn đề kinh tế, nhưng thường thì dễ trừng phạt một quan chức hơn là cả bộ máy lập pháp nếu để xảy ra những chính sách kinh tế mờ nhạt. Vì vậy, tính hiệu quả rõ thấy hơn ở hệ thống tổng thống so với hệ thống đại nghị.

Đóng góp tích cực thứ hai của các chế độ tổng thống là tính đại diện của một quan chức được bầu. Trong hệ thống đại nghị, với nhiều đảng chính trị, thông thường mỗi đảng chỉ đại diện cho những ai ủng hộ họ. Với những cử tri bảo thủ, điều đó có nghĩa là nhu cầu của họ sẽ bị ngó lơ nếu người chiến thắng đa số là một đảng tự do đang muốn đại diện (hoặc trao thưởng) cho những ai ủng hộ họ. Khả năng đó còn trở nên phức tạp hơn nhiều nếu chúng ta xem xét một quốc gia có vài đảng chính trị. Tuy nhiên, những người ủng hộ chính phủ tổng thống cho rằng kịch bản này ít có khả năng xảy ra hơn trong một quốc gia theo chế độ tổng thống. Họ cho rằng các tổng thống đại diện cho cả nước và do đó chịu trách nhiệm với toàn thể cử tri chứ không phải chỉ có một nhóm dân số. Năm 2000, khi George W. Bush được tuyên bố là tổng thống Hoa Kỳ, và bất chấp chiến thắng sát sao của mình, ông đã nói rằng ông sẽ đại diện cho toàn thể đất nước chứ không chỉ cho những người ủng hộ mình. Và 8 năm sau, Barack Obama đưa ra lời cam kết tương tự khi đắc cử tổng thống. Theo đó, ít nhất về lý thuyết thì một quan chức duy nhất được bầu có thể có vị trí tốt hơn nhằm đại diện cả nước so với khả năng có thể xảy ra ở các chính phủ đại nghị. Liệu điều này có xảy ra hay không đương nhiên là còn phải bàn luận.

Các hệ thống tổng thống cũng có thể được ưa thích hơn so với các chế độ nghị viện vì một hệ thống tổng thống cân bằng sự đại diện với một nhánh khác của chính phủ. Sắp xếp này tạo ra nhiều cách khác nhau để công dân ảnh hưởng lên chính phủ của họ. Nếu việc vận động hành lang tổng thống tỏ ra không hiệu quả thì một công dân có quan ngại có thể chuyển hướng chú ý của anh ta hay cô ta tới cơ quan lập pháp. Do đó, những quốc gia có tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu có thể cân bằng hoặc phân phối quyền lực qua các nhánh khác nhau của chính phủ. Sự phân chia về thể chế này cũng có thể ngăn cản một nhánh trở nên quá mạnh mà vì thế có thể chà đạp lên các lợi ý thiểu số khác. Bởi vậy, người dân thuộc mọi nền tảng ý thức hệ khác nhau đều có thể có ít nhiều tiếng nói trong hoạch định chính sách chừng nào vẫn còn nhiều chủ thể hoặc thể chế chính trị có quyền lực theo cách nào đó. Bởi vì các đơn vị bầu cử được đại diện bởi ít nhất hai thể chế khác nhau (ví dụ trong trường hợp này là hành pháp và lập pháp) nên các hệ thống tổng thống có thể thúc đẩy ổn định dân chủ bằng cách cho cử tri nhiều cơ hội hơn để ảnh hưởng lên quá trình hoạch định chính sách.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)