NỘI DUNG TƯ VẤN​

1. Giới thiệu về phần 232 của luật mở rộng thương mại năm 1962

Phần 232 của luật mở rộng (phát triển) thương mại năm 1962 cho phép Tổng thống chỉnh lý nhập khẩu khi Tổng thống cho rằng những hàng nhập khẩu đó đe dọa gây ảnh hưởng xấu cho nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ. Mục đích của luật này, không giống các luật khác của Mỹ liên quan đến thương mại quốc tế là để bảo vệ an ninh của Mỹ. Tất cả các ảnh hưởng đối với lợi ích kinh tế của chính phủ hay công nghiệp nước ngoài chỉ là hệ quả của mục đích nay. Luật này không được thường xuyên dùng làm cứu cánh vì còn có nhiều cách khác dễ hơn để có được sự giúp đỡ về thương mại Mỹ.

Trước đây những điều tra trong phần 232 thường gắn liền với các nguyên vật liệu chiến lược. Tuy vậy, trong những năm gần đây có những người đệ đơn cố gắng dựa một lượng lớn các sản phẩm có tính ứng dụng chủ yếu chiến lược không rõ lắm ra ngoài danh mục này. Ví dụ như vòng bi, khóa công nghiệp và các loại máy công cụ.

2. Tiến trình:

Những điều tra theo phần 232 có thể do trưởng chi nhánh điều hành, hoặc một bên có liên quan (như ngành công nghiệp trong nước chẳng hạn) đê trình (lên quốc hội). Hơn nữa, Bộ Thương mại có thể tự đề rá các hoạt động điều tra can cứ theo phần 232. Bộ Thương mại, theo sự cố vấn của Bộ quốc phòng và một số sĩ quan tương ứng khác chịu trách nhiệm, về những điều tra này.

Các điều tra theo phần 232 diễn ra qua hai giai đoạn. Thứ nhất, Bộ Thương mại quyết định xem liệu những nguồn cung cấp cho sản xuất có thể có trong nước và những mặt hàng nhập khẩu đáng tin cậy có sẵn trong trường hợp Nhà nước cần thiết không. Nếu kết quả điều tra cho thấy, có thể thiếu, một lượng nhỏ, hoặc sẽ xảy ra tình trạng bắt buộc khác, ví dụ cần phải duy trì ưu thế về công nghệ, Bộ Thương mại quyết định phải cân nhắc xem liệu những hàng nhập khẩu này có làm tăng đáng kể mối đe dọa đối với an ninh quốc gia hay không. Trong đó các tiêu chuẩn quan trọng nhất của các điều tra phần 232 là: những đòi hỏi bảo vệ trực tiếp, gián tiếp và các khu vực thuộc về thường dân, lượng huy động tối đa trong nước, ảnh hưởng của cạnh tranh nước ngoài đến lợi ích kinh tế của ngành công nghiệp chủ yếu trong nước.

Bộ thương mại cũng có thể đề đạt những kiến nghị bằng văn bản tới các bên có liên quan và có thể tiến hành thăm dò : luận trong quá trình điều tra, nhưng không giới hạn thời gian nhất định phải tiến hành. Bộ thương mại phải nộp một bản báo cáo về hành động của mình trong vòng 270 ngày kể từ khi bắt tay vào điều tra cho Tổng thống. Bản báo cáo với an ninh quốc gia và thông tin mật của doanh nghiệp bị xóa đi, được in ở phòng đăng ký kiểm duyệt liên bang.

Tổng thống phải quyết định trong vòng 90 ngày xem có nên cho nhập khẩu đến giới hạn cho phép trong phần 232 hay không. Tổng thống cũng có thể thông qua, không thông qua hay là thay đổi đề nghị giảm nhẹ của Bộ thương mại. Tổng thống phải đệ trình một bản báo cáo hàng năm cho Quốc Hội, giải thích về việc rạ quyết định của mình trong vòng 30 ngày saụ khi ra quyết định. Ngoài ra, Tổng thống phải đệ trình một bản báo cáo hàng năm cho Quốc hội thực hiên dự luật thương mại của Mỹ.

Cuối cùng, phần 232 bao gồm dự luật cho phép Quốc hội được quyền phủ quyết qụyết định của Tổng thống tăng hóặc giảm nhập khẩu dâu lửa hoặc các sản phẩm đầu nếu như hai Viện của Quốc hội ra nghị quyết chung đặc biệt không thông qua quyết định của Tổng thống. Dự luật này chữa được sử dụng.

3. Phần 307 của Luật thuế quan năm 1930:

Phần 307 của Luật thuế quan năm 1930 liên quan đến những hàng hóa được làm ra do lao động bắt buộc. Tất cả các sản phẩm toàn phần hay một phần làm ra do lao động bắt buộc hoặc lao động của tội phạm đều bị cấm đưa vào Mỹ. Dịch vụ Hải quan tự có được thông tin hoặc nhận được từ bất cứ nguồn nào, phải thực hiên điều tra theo phần 307. Hải quan phải xem xét các đại diện từ tất cả những người có liên quan, bao gồm người nhập khẩu, các nhà sản xuất trong nước và các bên liên quan nước ngoài. Bất cứ một vi phạm luật thuế quan được phát hiện, thì tất cả những hàng hóa nhập khẩu trực tiếp hoặc gián tiếp từ vùng đang được điều tra sẽ bị coi là hàng nhập khẩu trái phép, cho tới khi bên nhập khẩu chứng minh được những hàng hóa này sản xuất ra không phải do lao động bắt buộc. Luật thương mạì năm 1988 bao gồm nghị quyết của Quốc hội khẳng định thái độ của Quốc hội cho rằng Tổng thống phải thông tin cho Liên xô biết sự Phản đối của Mỹ đối với "chính sách lao động đối với tù nhân của Liên Xô" bằng tất cả các phương tiện có thể, kể cả việc từ chối nhập khẩu hàng hóa được làm ra do lao động đó.

4. Phần 103 Luật năm 1971:

Luật này cho Tổng thống quyền được từ chối cho nợ thuế đầu tư đối với các sản phẩm nhập khẩu từ một nước mà Tổng thống hạn chế hoạt động thương mại miễn thuế hoặc các hoạt động khác tạo gánh nặng cho thương mại Mỹ. Luật này mới được áp dụng một lần năm 1982 cho nhà máy sản xuất máy công cụ - tập đoàn công nghiệp Hunđai. Hunđai đề nghị chính phủ Mỹ đình chỉ việc cho Nhật nợ thuế đầu tư đối VỚỊ các máy công cụ nhập khẩu từ Nhật. Những máy này được cho là thu lợi nhuận từ một Số biện pháp không công bằng của người Nhật. Chính phủ Mỹ đã từ chối trợ giúp Hunđai.

5. Những khước từ dựa trên hiện thực quốc tế:

Việc áp dụng đạo luật BAA bị hạn chế cơ bản bằng điều 3 của hiệp định thương mại năm 1979, trong đó áp dụng AGP và thỏa ước Tôkyô về buôn bán máy bay dân sự (còn được biết đến như là luật máy bay dân dụng). Theo điều 3, Tổng thống có thể khước từ sự áp dụng bất cứ đạo luật nào của Hoa Kỳ hoặc các quy định phân biệt đối xử giữa mua sắm của nhà nước đối với các sản phẩm hàng hóa nước ngoài và nội địa, đối với một Số hàng hóa từ các nước đã ký AGP và "các nước ít phảt triển" (xem phụ lục 10). Tổng thống cũng có thể khước từ các điều khoản của BAA cho việc mua sắm máy bay dán dụng hay liên quan tói các hàng hóa từ nước là bên ký kết hiệp định về mua bán máy bay dân dụng.

AGP yêu cầu các bên ký hiệp định phải:

  1. Bảo đảm sản phẩm cũng như người cung cấp hàng đủ phẩm chất từ các nước ký kết được hưởng các quỳền lợi không ít hơn so với những sản phẩm và người cung cấp nội địa trong những chương trình mua hàng cụ thể.
  2. Thiết lập một quy chế mua hàng mở và rõ ràng.
  3. Thông qua các luật lệ chung trong thực tế mua hàng.
  4. Thiết lập cơ chế hốá giải tranh chấp.

Tiếp đó, điều 3 của hiệp định thương mại nặm 1979 trình bày các hạn chế đối với khả năng áp dụng của AGP. Thứ nhất, AGP chỉ áp dụng đối với việc mua hàng hóa, không áp dụng với cơ cấu của nhà nước hay đối với hợp đồng dịch vụ (hiện nay GATT đang tiếp tục bàn để mở rộng phạm vi của AGP, bao gồm cả các hợp đồng dịch vụ). Thứ hai, chỉ áp dụng đối với việc mua hàng do các hãng nhà nước cụ thể của Mỹ tiến hành và chiếu theo các hạn chế được liệt kê trong 48 CFR 124 25.406 (xem danh sách của các hãng này cùng hạn chế trong phụ lục 8). Thứ ba, AGP chỉ áp dụng đối với việc mua bán của một cơ quan đại diện thương mại Mỹ với tài sản có trị giá tương đương với đô la là 130.000 đơn vị SDR (quyền rất đặc biệt) mà được xem như là tối thiểu nhất. Hiện nay mức này được đặt là 156.000 đô la cho đến tháng giêng, năm 1990. Mức mua hàng từ Ixraen của chính phủ Mỹ (trừ việc mua hàng của Bộ quốc phòng) do Hiệp định khu tự do buôn bán Mỹ-Ixraen đặt ra là 50.000 đô la. Cuối cùng, AGP không áp dụng cho việc mua vũ khí, đạn dươc, nguyên vật liệu chiến tranh, hoặc, không áp dụng cho việc mua bán nhỏ hay các chương trình riêng cho kinh doanh nhỏ.

Những nhu cầu cũng như những khuyến cáo của BAA về việc mua máy bay dân dụng và những loại hàng liên quan của chính phủ Mỹ từ những nước ký kết hiệp định đã được bãi bỏ khi Mỹ tiến tới bản hiệp định về mua bán máy bay dân dụng (xem ở mục 11 danh sách các nước liên quan đến hiệp định). Khác với AGP, việc bãi bỏ này được áp dụng với tất cả các hãng của Mỹ.

Ngoài hai việc bãi bỏ dựa trên cơ sở thỏa thuận của GATT ra, còn có các bãi bỏ khác được áp dụng cho Bộ Quốc phòng. Những bãi bỏ này là kết quả thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và các nước khác, được gọi chung là "những nước đủ tiêu chuẩn" bao gồm:

  1. Những nước có hiệp ước hợp tác quốc phòng và có được "Quyết định và tìm kiếm" do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cấp, bãi bỏ những hạn chế của bên mua của Mỹ cho những mặt hàng đã được đồng ý;
  2. Những nước được sự sắp đặt đến bù trong liên kết với FMS (Foreign Military Sale) tạo cho bên mua của Mỹ sự bãi bỏ dựa trên cơ sở trường hợp này nối tiếp trường hợp kia.
  3. Những nước có bản ghi nhớ hay những thỏa thuận tương tự mà trong đó có những phần ghi bãi bỏ được để trống. Những nước có hiệp định thỏa thuận kiểu như vậy bao gồm các nước trong khối. NATO và các liên minh chủ yếu ngoài NATO.

Việc Bộ Quốc phòng mua các sản phẩm của Canada được hưởng ưu đãi đặc biệt là do các lợi ích chiến lược và quốc phòng rất có lợi cho cả hai nước. Chính sách của Bộ Quốc phòng là nhằm để đảm bảo cho Canada có được cơ hội công bằng phần sản xuất trang trí tài, thiết bị quân sự và trong các nghiên cứu và phát triển có liên quan. Chính sách này cũng có phép (1) miễn trừ luật mua hàng Hoa Kỳ đối với việc giành các nguồn cung đã được khai thác, sản xuất hay chế tạo tại Canada và (2) cho phép áp dụng vào các hợp đồng của Canada đối với các quyền sản xuất, Số liệu và thông tin theo cung cách Bộ Quốc phòng tiến hành, nếu hợp đồng này được thực hiện với Hoa Kỳ.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hàng còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê