Sự chỉ đạo giá (price leadership) là phương tiện phối hợp giá cả trên thị trường thiểu quyền để các nhà cung cấp trên thị trường này thu được mức lợi nhuận cao trong dài hạn. Chẳng hạn một công ty nắm được vai trò chỉ đạo do có những ưu thế về chi phí so với các đổi thủ cạnh tranh. Trong hình 13, doanh nghiệp A là nhà cung cấp có chi phí thấp và đường chi phí cận biên của nó là MC trong khi doanh nghiệp B có chi phí cao hơn và đường chi phí cận biên của nó là MC;;. Đường cầu cá biệi của mỗi doanh nghiệp là D khi họ quy định giá bán bằng nhau (nghĩa là chúng ta giả định tổng mức bán của ngành được chia đều cho hai doanh nghiệp tại bất cứ mức giá nào) và MR là đường doanh thu cận biên lương ứng. Doanh nghiệp A có thể tối đa hoá lợi nhuận bằng cách sản xuất sản lượng OQA (trong đó MCA = MR) tại mức giá OPA. Doanh nghiệp B muốn bán hàng với mức giá cao hơn (OPlf), nhưng điều tốt nhất mà nó có thể làm là chấp nhận mức giá do doanh nghiệp A quy định, mặc dù điều này có nghĩa là lợi nhuận của nó ở dưới mức tối đa. Do nhận thức được phản ứng của A đối với sự thay đổi giá cả của B, nên B biết rằng nếu không chấp nhận giá do A quy định, lợi nhuận của nó còn thấp hơn nữa. Sở dĩ như vậy là vì nếu B bán với giá cao hơn giá của A, nó sẽ phải nhường một phần doanh thu cho A nếu giá của A không thay đổi. Trong trường hợp như vậy, nó di chuyển dọc theo đoạn đường cầu gấp khúc mới KPịị. Nếu B giảm giá xuống dưới mức giá của A, A sẽ cắt giảm giá để đối phó lại và cả hai doanh nghiệp di chuyển dọc theo đoạn đường cầu KD. Do có chi phí cao hơn (đường chi phí cận biên cao hơn), B không hy vọng thắng được A trong cuộc chiến tranh giá cả. Bởi vậy, đường lối hành động tốt nhất của doanh nghiệp B là bán với giá bằng giá bán mà A đã quy định.
Hình 13. Sự chỉ đạo giá của công ty có chi phí thấp.