1. Cơ sở pháp lý

khoản 5 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC

khoản 7 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC 

Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC

2.  Luật sư tư vấn:

Theo khoản 5 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định:

"Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho."
Theo khoản 5 Điều 14 qui định về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
“Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa (kể cả hàng hóa mua ngoài hoặc hàng hóa do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.”

Theo khoản 7 Điều 3 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định:

“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất).…”

Theo  Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC quy định:

“Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.
c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng.…”

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty có thực hiện chương trình khuyến mãi xuất hàng hóa để khuyến mãi, làm hàng mẫu, quảng cáo, cho, tặng khách hàng nếu chương trình khuyến mãi thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thương mại thì khi xuất hàng Công ty phải lập hóa đơn trên hóa đơn ghi tên và số lượng hàng hóa, ghi rõ là hàng hóa xuất khuyến mãi, làm hàng mẫu, quảng cáo, cho, tặng khách hàng chỉ tiêu đơn giá, thành tiền, cộng tiền hàng, tổng cộng tiền thanh toán ghi bằng không (0), dòng thuế suất, tiền thuế GTGT không ghi gạch chéo, số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa khuyến mãi Công ty được kê khai khấu trừ (nếu đáp ứng đủ điều kiện khấu trừ thuế đầu vào theo quy định). Trường hợp hàng hóa dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì Công ty phải lập hóa đơn kê khai, tính nộp thuế GTGT như bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng, hóa đơn GTGT đầu ra này Công ty không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và sẽ chi phí mua hàng hóa khuyến mại này sẽ được đưa vào chi phí hợp lý (Theo Công văn số 1762/CT-TTHT Công văn của Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 03 năm 2016)

3.  Mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm khuyến mại

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối hành vi vi phạm

a) Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không đúng quy định về khuyến mại;
b) Không thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin về chương trình khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ.
c) Thu các khoản phí, lệ phí, tiền từ khách khi thực hiện hình thức khuyến mại đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;
d) Không tổ chức công khai/ không có sự chứng kiến của khách hàng về việc mở thưởng chương trình khuyến mại mang tính may rủi.
đ) Không thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định;
e) Tổ chức thi và mở thưởng không công khai/không có sự chứng kiến của đại diện khách hàng/không thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi thực hiện chương trình khuyến mại.
g) Khuyến mại mang tính may rủi mà không thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về thời gian, địa điểm thực hiện.
h) Không thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng trong chương trình khuyến mại mang tính rủi ro hoặc có kèm phiếu dự thi;
i) Không thực hiện việc trao giải thưởng trong thời hạn quy định.
k) Không xác nhận chính xác, kịp thời sự tham gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên;
l) Không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc theo quy định trên phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phiếu dự thi, vé số dự thưởng, thẻ khách hàng.. sử dụng trong các chương trình khuyến mại.

 Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với:

a) Thương nhân không được quyền thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ khuyến mại;
b) Thực hiện khuyến mại cho thương nhân khác mà không có hợp đồng dịch vụ/thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại;
c) Không thông báo, không đăng ký hoặc thông báo, đăng ký không đúng với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ;
d) Không thông báo hoặc không báo cáo kết quả thực hiện khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
đ) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc trì hoãn việc thực hiện các nội dung của chương trình khuyến mại;
e) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chương trình khuyến mại đã thông báo hoặc đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
g) Thực hiện khuyến mại có giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa;
h) Thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá có mức giảm giá hàng hóa, dịch vụ vượt quá mức giảm giá tối đa;
i) Thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá hàng hóa, dịch vụ thuộc diện nhà nước có quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu hoặc giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện nhà nước quy định giá cụ thể;
k) Thực hiện chương trình khuyến mại bằng hình thức giảm giá hoặc bằng chương trình mang tính may rủi không đúng quy định về thời gian được phép thực hiện khuyến mại;
l) Sử dụng vé số dự thưởng có hình thức giống hoặc tương tự với xổ số do nhà nước độc quyền phát hành hoặc sử dụng kết quả xổ số của nhà nước để làm kết quả xác định trúng thưởng khi thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi;
m) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về việc trích nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng;
n) Chấm dứt việc thực hiện chương trình khuyến mại trước thời hạn đã công bố;

 Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ bị cấm, hạn chế kinh doanh hoặc kém chất lượng, chưa được lưu thông;
b) Hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ bị cấm, hạn chế kinh doanh hoặc kém chất lượng, chưa được lưu thông;
c) Khuyến mại rượu, bia hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi; thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức;
đ) Khuyến mại thuốc chữa bệnh cho người;
e) Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng;
g) Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa không bảo đảm chất lượng theo quy định làm phương hại đến môi trường, sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác;
h) Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
i) Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng;
k) Nội dung chương trình thi của khuyến mại theo hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

4. Những trường hợp khuyến mại mà không cần thông báo với Sở Công thương ?

Ngày 15/07/2018, Nghị định 81/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật thương mại 2005 về thực hiện chương trình khuyến mại có hiệu lực thay thế Nghị định 37/2006/NĐ-CP. Theo đó, một số chương trình khuyến mại không nhất thiết phải đăng ký với Sở Công thương trước khi thực hiện.

 Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 37/2006/NĐ-CP về hoạt động xúc tiến thương mại:

“Thương nhân thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Mục 2 Chương này phải gửi thông báo bằng văn bản về chương trình khuyến mại đến Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại.”

 Theo đó, trước ngày 15/07/2018, khi thực hiện các chương trình khuyến mại: đưa hàng mẫu, tặng hàng hóa, phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ, phát phiếu tham dự cuộc thi có thưởng, rút thăm may rủi,…thương nhân phải thực hiện việc đăng ký với Sở Công thương. Và do đó, nếu không thông báo, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và chỉ khi thông báo chương trình theo đúng quy định thì các khoản chi phí liên quan đến chương trình khuyến mại sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN.

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện nay, khi Nghị định 81/2018/NĐ-CP có hiệu lực ngày 15/07/2018, một số chương trình khuyến mại có quy mô nhỏ hoặc thực hiện hoạt động giao dịch chỉ bằng phương thực điện tử sẽ không cần phải thực hiện thủ tục thông báo với Sở công thương nữa.

5. Các hình thức khuyến mại phải đăng ký

  • Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền;
  • Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền;
  • Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thông báo (khuyến mại bằng hình thức giảm giá);
  • Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ;
  • Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (hoặc các hình thức tổ chức thi và trao thưởng khác tương đương);
  • Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (chương trình khuyến mại mang tính may rủi);
  • Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
  • Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Chi phí khuyến mại không đăng ký có đưa vào chi phí hợp lý được hay không ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Thuế - Công ty luật Minh Khuê