1. Quy định về thừa kế đối với con chưa thành niên.

Thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người đã chết cho người còn sống tài sản để lại được gọi là di sản. Hiện nay có hai hình thức thừa kế đó là thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc. Thừa kế theo di chúc là vệc chuyển dịch tài sản của cải của người đã chết cho người còn sống theo tâm nguyện của người đã chết tuy nhiên thì phải đảm bảo các điều kiện của Bộ luật Dân sự 2015 về di chúc. 

Còn thừa kế theo di chúc được hiểu là dịch chuyển tài sản của cải của người đã chết cho người còn sống trong trường hợp khoong có di chúc. Đây được gọi là thừa kế theo pháp luật và được Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về việc chia thừa kế. 

Tài sản thừa kế được quy định tại điều 612 Bộ luật Dân sự về di sản thì di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác. Như vậy thì di sản thừa kế bao gồm: tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác; quyền sử dụng đất là di sản thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự và đất đai.

Căn cứ theo khoản 1 điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 thì có quy định như sau: Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.Theo đó thì giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.  Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.  Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

Con chưa thành niên có được hưởng di sản thừa kế cả khi không có tên trong di chúc hay không? căn cứ theo điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Theo đó 

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

-  Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Như vậy thì trong trường hợp người để lại di sản truất quyền thừa kế của con chưa thành niên thì theo quy định của pháp luật thì con chưa thành niên vẫn được hưởng di sản, phần di sản thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần 3 suất của một người nếu di sản được chia theo pháp luật. Trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản theo quy định tại điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. 

Điều 620 quy định về từ chối nhận di sản như sau:

-  Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết

- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản

2. Các trường hợp không được hưởng thừa kế. 

Căn cứ theo quy định tại điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì những người sau đây không được quyền hưởng di sản. 

-  Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

-  Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di ssản

Những người quy định trên vẫn được hưởng di sản nếu như người để lại di sản biết những hành vi đó nhưng họ vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. 

3. Một số quy định của pháp luật về di chúc

Di chúc hợp pháp

Căn cứ theo quy định tại điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau:

-  Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện như là người lập di chúc minh mẫn,  sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Người làm chứng ( điều 632 Bộ luật Dân sự 2015)

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây

-  Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Trên đây là toàn bộ những nội dung thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến thừa kế cho người dưới 18 tuổi( người chưa thành niên). Hi vọng rằng thông qua những thông tin mà chúng tôi cung cấp đã giúp ích cho các bạn trong việc tìm hiểu về thừa kế đặc biệt là những quyền lợi trong phân chia di sản thừa kế đối với con chưa thành niên, để biết và bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách tốt nhất có thể. Ngoài ra nếu các bạn còn có những thắc mắc khác có liên quan thì có thể chủ động liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài 19006162 để được hỗ trợ một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất có thể.