1.hay giải quyết tình huống trên. 2.trong qúa trình giải quyết,bà B uỷ quyền cho luật sư đại diện bà B giải quyết vụ việc.khi vu việc chưa giải quyết xong bà B chết không để lại di chúc.trong trường hợp này ông A có được quyền hưởng tài sản của bà B không? 3.giải sử khi vụ việc vừa giải quyết xong, thi bà B chết không để lại di chúc. Hãy phân chia tài sản thừa kế của bà B, biết rằng tiền mai táng và tiền công cho người đại diện là 100 triệu. Mong luật sư giải đáp giúp cháu trong thời gian sớm nhất.

Xin chân thành cám ơn!

Câu hỏi ddwwocj biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật hôn nhân, công ty luật Minh Khuê.

Chia tài sản trong trường hợp sống chung như vợ chồng ?

Tư vấn Luật hôn nhân gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý: 

>> Xem thêm:  Kiện tình địch để bảo vệ hạnh phúc gia đình có được không?

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Bộ luật dân sự năm 2005;

Nghị quyết 35/2000/QH10

Nội dung:

Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001,mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

c) Kể từ ngày 1/1/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật chấp nhận là vợ chồng…”.

Bạn không cung cấp rõ ông A và bà B bắt đầu sống chung từ bao giờ nên chúng tôi xin chia làm 2 trường hợp:

Trường hợp 1: quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, như vậy, hai ông bà được công nhận là vợ chồng hợp pháp.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tình trạng chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn ?

1.

Về việc chia tài sản sau khi ly hôn: về nguyên tắc theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì việc chia tài sản chung trong hôn nhân theo nguyên tắc thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong hôn nhân, tài sản riêng của ai thuộc về người đó. Tài sản riêng là tài sản có được từ hợp đồng cho tặng, thừa kế....

- Về mảnh đất mà bà B được gia đình để lại, nếu đó là tài sản gia đình cho riêng bà B và trong quá trình sống chung, bà B không nhập nó vào khối tài sản chung thì nó là tài sản riêng của bà B và sau khi ly hôn thì mảnh đất này không bị chia, nó vẫn thuộc về bà B. Nếu không sẽ bị chia như tài sản chung.

- Về tài sản tạo lập trong thời kỳ sống chung sẽ được chia theo thỏa thuận của các bên, nếu không thỏa thuận được yêu cầu Tòa án chia, về nguyên tắc chúng sẽ được chia đôi, tùy từng trường hợp có thể chia theo phần, công sức đóng góp. ( Điều 95, 96, 97, 98 Luật hôn nhân và gia đình ).

2.

Căn cứ Điều 676 Bộ luật dân sự quy định về hàng thừa kế:

- Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Trong trường hợp này ông A và bà B vẫn chưa ly hôn, được pháp luật thừa nhận là vợ chồng nên ông A có quyền hưởng thừa kế của bà B.

>> Xem thêm:  Chung sống với người khác nhưng chưa được chính quyền công nhận có thể kết hôn không?

3.

Sau khi ly hôn bà B chết, như vậy, ông A đã không còn là chồng của bà B. Theo Điều 676 BLDS thì nhữn người được hưởng thừa kế của bà B là cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của bag B. 

Trước khi chia di sản cần thanh toán  tiền mai táng và tiền công cho người đại diện là 100 triệu.

Trường hợp thứ hai: sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987: 

Nếu cho đến ngày ông A và bà B ly hôn, họ vấn chưa đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng. Như vậy:

1.

Tài sản của ông A và bà B giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó. Tài sản chung do cả hai cùng gây dựng được xác định là tài sản sở hữu chung theo phần và được phân chia theo phần đóng góp của mỗi người trong khối tài sản chung.

2. 3

Vì ông A và bà B không được công nhận là vợ chồng nên không phát sinh quan hệ thừa kế giữa ông A với di sản của bà B.

Trong 2 trường hợp này, chia thừa kế tương tự phần 3 của trường hợp thứ nhất:

>> Xem thêm:  Hỏi về quan hệ hôn nhân và phân chia tài sản ?

Theo Điều 676 BLDS thì những người được hưởng thừa kế của bà B là cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của bag B. 

Trước khi chia di sản cần thanh toán  tiền mai táng và tiền công cho người đại diện là 100 triệu.

Trên đây là ý kiến để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN.

>> Xem thêm:  Có được chia tài sản do chồng đi xuất khẩu lao động không ?