Câu hỏi của Bạn đưa ra chúng tôi xin trích lại như sau:
"Sau khi kết hôn, vợ chồng tôi sinh được 02 con gái. Chồng tôi công tác trên thành phố còn tôi sống ở quê cùng bố mẹ chồng và 2 con. Do quen biết với chị T qua mạng xã hội và nảy sinh tình cảm, lại sống xa gia đình, nên chồng tôi đã về chung sống như vợ chồng với chị T trên thành phố. Sau này biết chồng tôi đã có gia đình, nhưng do được chồng tôi hứa sẽ sớm ly hôn vợ để kết hôn với chị T nên chị T vẫn tiếp tục chung sống với chồng tôi. Xin hỏi tôi cần làm gì để chấm dứt mối quan hệ sai trái giữa chồng tôi và chị T?"
Cảm ơn bạn đã sử dụng dịch vụ tư vấn của Luật Minh Khuê. Câu hỏi được chúng tôi biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hôn nhân của Công ty Luật Minh Khuê.
Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Căn cứ pháp lý:
- Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội khóa 13;
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp; Hành chính tư pháp; Hôn nhân và gia đình; Thi hành án dân sự; Phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
Nội dung tư vấn:
1. Các khái niệm:
Để trả lời cho các câu hỏi của bạn, trước tiên ta cần phải hiểu rõ các khái niệm có liên quan: về hôn nhân, gia đình, chế độ hôn nhân và gia đình, kết hôn, chung sống như vợ chồng. Các khái niệm này đều được định nghĩa tại Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như sau:
- Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
- Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này.
- Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
- Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.
- Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Như vậy, với trường hợp chồng bạn và chị T cùng sinh sống với nhau tại một nơi cư trú nhất định, tổ chức cuộc sống chung và coi nhau như vợ chồng thì mới được coi là chung sống như vợ chồng theo luật định.
2. Các hành vi bị cấm trong hôn nhân và gia đình:
Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Theo đó, tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 dã quy định các hành vi bị cấm để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình như sau:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;
e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;
g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;
h) Bạo lực gia đình;
i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.
Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình đều bị xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ trong quá trình giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 như trên thì chồng bạn và chị T đã chung sống với nhau như vợ chồng trong khi biết một bên đã có vợ là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm, cần phải bị xử lý theo pháp luật.
3. Xử phạt hành vi vi phạm quy định về chế độ hôn nhân và gia đình:
Vi phạm quy định về kết hôn là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Theo đó, tại Điều 59 Nghị định số 80/2020/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng như sau:
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
b) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
c) Cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn;
d) Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình;
đ) Lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm d và đ khoản 2 Điều này.
Như vậy, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 59 nêu trên thì hành vi đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác thì có thể bị xử phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự, hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng còn có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm nếu thuộc một trong bốn trường hợp sau:
- Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
- Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
- Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.
Bạn có thể thỏa thuận cùng gia đình và chồng với chị T về tình hình hiện tại hoặc làm đơn tố cáo đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền để xử lý tình trạng của chồng bạn với chị T, để có hướng giải quyết rõ ràng. Nếu tình trạng đó vẫn còn kéo dài trầm trọng, cuộc hôn nhân không đạt được mục đích thì bạn có thể làm đơn ly hôn gửi đến Tòa án để giải quyết.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết:
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này thuộc về Chủ tịch UBND cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thẩm quyền lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi này thuộc về công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã, công chức Phòng Tư pháp cấp huyện. Như vậy, dựa vào thẩm quyền này, bạn có thể gửi đơn tố cáo đến UBND cấp xã, Phòng tư pháp cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện, Cơ quan cảnh sát điều tra cấp có thẩm quyền,…
Tuy nhiên, để làm rõ thế nào là chung sống như vợ chồng theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì khá khó để xác định, không phải hành vi ngoại tình nào cũng sẽ đủ các yếu tố để các cơ quan chức năng có biện pháp xử lý. Bởi việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó...
Trên đây là toàn bộ ý kiến tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê về chế độ một vợ một chồng trong quan hệ hôn nhân. Pháp luật nghiêm cấm hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Bạn có thể tham khảo thêm các bài viết và văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình cùng các văn bản hướng dẫn có liên quan tại phần Tư vấn Luật Hôn nhân tại website của Công ty Luật Minh Khuê tại đây.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: luatsu@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn Luật Hôn nhân.