Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Như vậy, chiếm hữu đòi hỏi không chỉ sự nắm giữ, chi phối tài sản mà còn là nhận thức và mong muốn sự thống trị đó
Nếu như hiện nay, theo BLDS năm cũ, chiếm hữu tài sản dưới góc độ là quyền của chủ sở hữu nên quyền chiếm hữu được ghi nhận với tư cách là một trong các nội dung cụ thể của quyền sở hữu. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành trong 10 năm qua cho thấy rằng, chiếm hữu không chỉ là quyền của chủ sở hữu mà là còn để chỉ một thực trạng chiếm hữu trên thực tế của các chủ thể khác.Nếu như hiện nay, theo BLDS năm cũ, chiếm hữu tài sản dưới góc độ là quyền của chủ sở hữu nên quyền chiếm hữu được ghi nhận với tư cách là một trong các nội dung cụ thể của quyền sở hữu. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành trong 10 năm qua cho thấy rằng, chiếm hữu không chỉ là quyền của chủ sở hữu mà là còn để chỉ một thực trạng chiếm hữu trên thực tế của các chủ thể khác. Do đó, BLDS 2015 đã kết cấu nội dung chiếm hữu với tính chất là một thực trạng pháp lý tại chương XII của phần thứ Hai.
1. Vì sao BLDS năm 2015 ghi nhận điểm mới này?
BLDS 2015 đã đưa ra khái niệm chiếm hữu ngay tình rộng hơn so với BLDS cũ. Theo đó chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu, bao gồm hai loại là: chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình.
Việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật được ghi nhận tại Điều 165 BLDS 2015 bao gồm: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định pháp luật; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật liên quan; người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan; và các trường hợp khác do pháp luật quy định. Việc chiếm hữu không phù hợp với những nội dung trên được coi là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật. So với BLDS cũ, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình thì không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp luật (yếu tố khách quan): không buộc chủ thể nhận thức được việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật, trong trường hợp này, dù không đòi hỏi điều kiện phải biết về tình trạng chiếm hữu của tài sản nhưng người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật ngay tình này có thể có sự nghi ngờ, chưa thực sự chắc chắn vào việc chiếm hữu của mình là hợp pháp hay không hợp pháp
Quyền chiếm hữu với tính chất là một trong các quyền năng của chủ sở hữu, nên khi đã xác định được chính xác chủ sở hữu thì lúc này việc chiếm hữu tài sản được xác định là “quyền”. Còn việc chiếm hữu tài sản của một chủ thể trong xã hội chỉ phản ánh thực tế chiếm hữu của người đó chứ chưa chắc chủ thể này đã thực sự có “quyền” trong việc chiếm hữu tài sản đó. Đây là lý do BLDS năm 2015 dùng thuật ngữ “quyền chiếm hữu” và “chiếm hữu” để quy định về hai nội dung này
Rõ ràng, việc phân biệt cụ thể giữa “quyền chiếm hữu” (với tư cách là một quyền năng của chủ sở hữu) và chiếm hữu (với tư cách là một tình trạng pháp lý) là điều cần thiết, tránh những nhầm lẫn không đáng có giữa hai nội dung này.
2. Một vài bình luận về quy định trên
BLDS 2015 quy định: Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Như vậy, chiếm hữu đòi hỏi không chỉ sự nắm giữ, chi phối tài sản mà còn là nhận thức và mong muốn sự thống trị đó. Điều này khác biệt với chiếm giữ chỉ là sự nắm giữ, chi phối tài sản nhưng không có ý chí coi vật đó là của mình.
Ví dụ: A thuê đồ vật, chiếm giữ vật trên thực tế nhưng không có ý thức xem vật đó là vật của mình. Bởi nếu A coi vật đó là của mình thì sẽ không bao giờ trả tiền cho việc sử dụng vật cả.
Nếu như trước đây quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản; thì hiện nay BLDS 2015 lại khẳng định quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, chi phối tài sản. So với quản lý thì chi phối rộng hơn, bao hàm cả việc quản lý. Việc chi phối được hiểu là ngay cả trường hợp tài sản đã chuyển giao sang cho chủ thể khác cầm giữ, quản lý thì chủ sở hữu vẫn còn tiếp tục được chi phối tài sản. Bởi suy cho cùng thì tài sản vẫn là của chủ sở hữu nên họ có quyền giám sát, chi phối tài sản của họ là điều hợp lý.
Quyền chiếm hữu là một quyền năng của quyền sở hữu nên quyền chiếm hữu là kết quả của quyền sở hữu mang lại. Bên cạnh đó, nhiều quy định trong BLDS xuất phát từ tình trạng chiếm hữu của một chủ thể mà qua đó xác lập quyền sở hữu đối với vật- chiếm hữu được coi là điều kiện để xác lập quyền, như các quy đinh: xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu; xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm chưa được tìm thấy,..
2.1. Chiếm hữu liên tục
Chiếm hữu liên tục được quy định tại Điều 185 BLDS 2015 được hiểu là việc chiếm hữu về mặt thực tế và về mặt pháp lý của một chủ thể đối với tài sản. Chiếm hữu về mặt thực tế là việc chủ sở hữu, hoặc người có quyền chiếm hữu tự mình nắm giữ tài sản. Khi chủ sở hữu trao quyền chiếm hữu tài sản của mình cho một chủ thể khác, thì chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu về mặt pháp lý đối với tài sản, còn chủ thể được chủ sở hữu trao quyền chiếm hữu thì có quyền chiếm hữu thực tế đối với tài sản. Đây là trường hợp chủ sở hữu trao quyền chiếm hữu thực tế một cách tự nguyện. Ví dụ: sinh viên A đi học, gửi xe của mình cho người trông xe B ở bãi xe nhà trường thì sinh viên A là người chiếm hữu về mặt pháp lý đối với tài sản, B là người chiếm hữu về mặt thực tế đối với tài sản.
Tính liên tục của chiếm hữu được ghi nhận bao gồm hai điều kiện: việc chiếm hữu diễn ra trong một khoảng thời gian xác định và điều kiện thứ hai là không có tranh chấp về quyền đối với tài sản hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật tại Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Việc chiếm hữu của chủ thể không bị gián đoạn trong quá trình chiếm hữu đồng thời không xảy ra các tranh chấp về quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng,… đối với tài sản, hoặc nếu có các loại tranh chấp này thì chưa được giải quyết tại tòa án hoặc cơ quan nước có thẩm quyền bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 190 BLDS cũ chỉ ghi nhận chiếm hữu liên tục trong một khoảng thời gian và không có tranh chấp về tài sản thì đến BLDS 2015 bổ sung thêm trường hợp có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Như vậy theo tinh thần của điều luật này thì dù việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà có tranh chấp hay không có tranh chấp về quyền đối với tài sản thì vẫn được coi là chiếm hữu liên tục.
2.2. Chiếm hữu công khai
Chiếm hữu công khai được thể hiện chính là ở việc người chiếm hữu thực hiện các tác động vật chất đối với tài sản một cách minh bạch, không giấu giếm. Người chiếm hữu có thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách rõ ràng, không che giấu vì một ý đồ gì. Cần phân biệt việc chiếm hữu giấu giếm với trường hợp chiếm hữu với loại tài sản đặc thù không thể hiện ra bên ngoài, ví dụ: mua vàng để cất giữ trong két sắt, dù không thể hiện ra bên ngoài cho các chủ thể khác biết về việc để dành tài sản là vàng này nhưng người chiếm hữu này không hướng đến việc giấu giếm nhằm một ý đồ gì. Ngoài ra, chiếm hữu công khai còn thể hiện qua việc chủ thể chiếm hữu có đầy đủ căn cứ chứng minh tình trạng chiếm hữu của mình đối với tài sản, thể hiện tính minh bạch trong việc chiếm hữu tài sản.
Việc chiếm hữu liên tục, công khai vừa có ý nghĩa trong xác định và bảo à bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu, vừa là căn cứ quan trọng để xác định quyền sở hữu theo thời hiệu theo quy định tại Điều 236 BLDS 2015: “ Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan có quy định khác”.
Điều 184 về suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu là điều luật mới được ghi nhận trong nội dung Chiếm hữu của BLDS 2015. Theo đó, chủ thể chiếm hữu tài sản được suy đoán là ngay tình. Sự suy đoán này dựa trên cơ sở sự chiếm hữu thực tế đối với tài sản của chủ thể chiếm hữu, bao gồm: (i) Người chiếm hữu tài sản dựa trên cơ sở sự thỏa thuận với chủ sở hữu. Họ là người kiểm soát thực tế đối với tài sản đồng thời thừa nhận mình không có quyền sở hữu đối với tài sản đó. Họ chiếm hữu tài sản dựa trên ý chí của người khác. (ii)Người chiếm hữu tài sản không dựa trên sự thỏa thuận với chủ sở hữu. Đó là những trường hợp chiếm hữu dựa trên quy định của pháp luật hoặc thông qua hành vi bất hợp pháp. Trong trường hợp này, ngoài việc chiếm giữ tài sản, họ còn mong muốn chiếm hữu tài sản theo ý chí của mình.
Việc chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được coi là căn cứ để áp dụng thời hiệu hưởng quyền và hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại. Đây là một quy định mới trong BLDS 2015 hướng đến việc bảo vệ việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật của chủ thể. Chủ thể chiếm hữu tài sản này bao gồm: Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản; Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan; Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và trường hợp khác do pháp luật quy định.
Trong trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trên thực tế, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ việc chiếm hữu của mình bằng rất nhiều cách thức khác nhau như tự bảo quản, giữ gìn tài sản.
Người chiếm hữu có thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại bằng những biện pháp không trái quy định của pháp luật. Hoặc người chiếm hữu có thể yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm việc chiếm hữu thực hiện các trách nhiệm này khi họ.
3. Ý nghĩa của quy định trên
Việc ghi nhận “chiếm hữu” vào BLDS 2015 có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn đời sống xã hội: người đang thực tế chiếm hữu sẽ được suy đoán là chiếm hữu ngay tình và được bảo vệ trước sự xâm phạm của các chủ thể khác. Nếu các chủ thể khác muốn bác bỏ việc chiếm hữu của một chủ thể là không ngay tình thì phải chứng minh (Điều 184,185 BLDS 2015). Với ghi nhận này, BLDS 2015 đã phản ánh đúng thực tế trong xã hội và ổn định các quan hệ xã hội.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về vấn đề này. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.