1. Xác lập quyền dân sự thông qua chiếm hữu tài sản.
Chiếm hữu là nắm giữ, quản lí. Chiếm hữu tài sản là nắm giữ, quản lí tài sản. Chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản, nếu được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thuộc quyền của chủ sở hữu.
Trong thực tế, chiếm hữu là một căn cứ xác lập quyền dân sự khá phổ biến. Điều 186 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cụ thể quyền chiếm hữu của chủ sở hữu: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”. Ngoài quyền chiếm hữu của chủ sở hữu, thì người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản; người được chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu; được giao tài sản có quyền sử dụng tài sản được giao, được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý... thì người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù họp với mục đích, nội dung của giao dịch.
Hành vi chiếm hữu trong trường hợp này là căn cứ xác lập quyền dân sự, người được giao tài sản không thể trở thành chủ sở hữu của tài sản nếu không thuộc trường hợp được quy định tại Điều 236 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Việc chiếm hữu tài sản cũng là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự theo Điều 275 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 275. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Nghĩa vụ phát sinh từ căn cứ sau đây:
1. Hợp đồng.
2. Hành vi pháp lý đơn phương.
3. Thực hiện công việc không có ủy quyền.
4. Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
5. Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.
6. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Hay chiếm hữu tài sản cũng là căn cứ xác lập quyền dân sự trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu của tài sản hoặc đối với tài sản bị chôn giấu, đánh rơi, bỏ quên theo Điều 228, Điều 229 BLDS năm 2015:
Điều 229:
Tài sản được tìm thấy không phải là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa mà có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì thuộc sở hữu của người tìm thấy; nếu tài sản tìm thấy có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người tìm thấy được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước.
Điều 228. Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu
1. Tài sản vô chủ là tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản đó.
Người đã phát hiện, người đang quản lý tài sản vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó, trừ trường hợp luật có quy định khác; nếu tài sản là bất động sản thì thuộc về Nhà nước.
2. Sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thi phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Hay khoản 2 Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại”. Như vậy, người đang sử dụng tài sản, được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại sẽ là căn cứ xác lập quyền yêu cầu hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó theo quy định của pháp luật trong quan hệ dân sự này.
Tuy nhiên, Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Như vậy khi người sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật sẽ được xác lập quyền sở hữu đối với tái sản đó khi đpa ứng các điều kiện:
- Ngay tình, liên tục,công khai
- Trong khoảng thời gian 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản.
Như vậy, Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 4 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Xác lập quyền dân sự qua "Bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật".
Theo Điều 584 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Một chủ thể khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra theo các căn cứ quy định tại Điều 584 BLDS năm 2015 cũng là căn cứ xác lập quyền dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo nguyên tắc được quy định tại Điều 585 BLDS năm 2015.
Điều 585.Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Tuy nhiên, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại phải còn thời hiệu thì quyền của bên bị thiệt hại mới được xác lập. Theo đó, Tại điều 588 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
“Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”.
Vậy, bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật cũng là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Thực hiện công việc không có uỷ quyền là căn cứ xác lập quyền dân sự.
Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối. Khi thực hiện công việc không có ủy quyền thì theo Điều 576 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 576. Nghĩa vụ thanh toán của người có công việc được thực hiện
1. Người có công việc được thực hiện phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và thanh toán các chi phí hợp lý mà người thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc, kể cả trường hợp công việc không đạt được kết quả theo ý muốn của mình.
2. Người có công việc được thực hiện phải trả cho người thực hiện công việc không có ủy quyền một khoản thù lao khi người này thực hiện công việc chu đáo, có lợi cho mình, trừ trường hợp người thực hiện công việc không có ủy quyền từ chối.
Trong quan hệ dân sự này, thì người có công việc phải tiếp nhận công việc khi người thực hiện công việc không có ủy quyền bàn giao công việc và có nghĩa vụ thanh toán chi phí mà bên đã thực hiện công việc không có ủy quyền đã bỏ ra để thực hiện công việc. Đồng thời phải trả thù lao cho bên đã thực hiện công việc giúp mình. Đây là căn cứ làm phát sinh quyền của người thực hiện công việc không có ủy quyền yêu cầu bên kia trả thủ lao, cũng như những chi phí hợp lí đã bỏ ra.
5. Căn cứ khác do pháp luật quy định.
Quan hệ dân sự rất phong phú và đa dạng nên pháp luật không thể dự liệu hết được các sự kiến pháp lí có thể làm căn cứ để xác lập quyền dân sự.
Có điều này là do sự phức tạp của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội mà các nhà làm luật chưa thể dự liệu ngay được, chẳng hạn do khoa học công nghệ phát triển nên các căn cứ xác lập quyền trong sở hữu trí tuệ, lĩnh vực công nghệ thông tin. Để những quyền dân sự được xác lập được pháp luật dân sự bảo hộ, thì quy định có tính chất “mở” này là cần thiết. Vì vậy, khoản 9 Điều 8 BLDS năm 2015 vẫn kế thừa các bộ luật trước đó và quy định: “Những căn cứ khác do pháp luật quy định”.
Căn cứ khác do pháp luật quy định cũng là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ theo quy định tại khoản 6 Điều 275 BLDS năm 2015.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./