Tăng giảm cỡ chữ:

Chiếm hữu và quyền chiếm hữu khác nhau như thế nào?

Thưa luật sư, tôi xin hỏi luật sư về: Điểm gống nhau và khác nhau giữa chiếm hữu với quyền chiếm hữu của chủ sở hữu. Rất mong nhận được sự giải đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

1. Chiếm hữu là gì?

Chiếm hữu là nắm giữ, quản lý tài sản.

Chiếm hữu là một trong những nội dung của quyền sở hữu. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản, nếu được chủ sở hữu chuyển giao hoặc do pháp luật quy định thuộc quyền của chủ sở hữu.

Chiếm hữu trong pháp luật dân sự gồm có chiếm hữu có căn cứ pháp luật và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

 

2. Chủ thể của quyền chiếm hữu

Thứ nhất: Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu

Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật. Để thực hiện quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu thực hiện hành vi nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp,trên thực tế theo ý chí của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể khác.

Có thể nói chủ sở hữu là người được pháp luật quy định toàn quyền chiếm hữu tài sản. Tuy nhiên, việc chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản có thể bị giới hạn trong một số trường hợp như việc chiếm hữu đó gây thiệt hại cho bất kì cá nhân, tổ chức nào khác hoặc gây thiệt hại cho xã hội, trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội.

Thứ hai: Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản

Vì nhiều lý do khách quan, chủ sở hữu có thể ủy quyền cho một người khác thực hiện quyền quản lý tài sản của mình. Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó theo ủy quyền nhưng không được trái với quy định của pháp luật. Chủ sở hữu tài sản là người có quyền chi phối lớn nhất đối với tài sản, tuy nhiên người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản có thể thực hiện công việc được ủy quyền, cụ thể là chiếm hữu tài sản thông qua phạm vi, phương thức và thời hạn do chủ sở hữu xác định.

Thứ ba: Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự

Người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự thực hiện quyền chiếm hữu tài sản, tuy nhiên việc này không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản. Người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó theo thỏa thuận trong giao dịch dân sự đã thống nhất giữa các bên. Việc sử dụng tài sản, chuyển quyền chiếm hữu tài sản đó cho người khác phải được đồng ý của chủ sở hữu tài sản.

Ngoài những trường hợp trên thì Điều 165 Bộ Luật dân sự 2015 còn quy định một số trường hợp cụ thể khác mà chủ thể có quyền chiếm hữu tài sản như sau:

  • Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp,chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và các trường hợp khác do pháp luật quy định.

Việc chiếm hữu không phù hợp với những nội dung trên được coi là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

 

3. Các hình thức chiếm hữu

  • Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
  • Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
  • Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
  • Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.

 

4. Quyền chiếm hữu là gì?

Quyền chiếm hữu là quyền của một chủ thể pháp luật được nắm giữ, quản lí tài sản trên thực tế hoặc danh nghĩa pháp lí theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, quyển chiếm hữu là một trong ba nội dung pháp lí của quyền sở hữu.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì quyền sở hữu là những quyền năng dân sự đối với tài sản. Điều 164 BLDS đã xác nhận: "Quyển sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật..."

Đây là những quyền dân sự cụ thể của chủ sở hữu, hay còn gọi là quyền dân sự chủ quan. Ba quyền năng ttên hợp thành nội dung của quyền sở hữu.

Phân tích nội dung quyền chiếm hữu:

Theo xác nhận tại Điều 186 Bộ luật dân sự năm 2015 thì quyền chiếm hữu là quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình, nắm giữ, chi phối tài sản thuộc sở hữu nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Trong thực tế, chủ sở hữu thường tự mình bàng các hành vi của bản thân để thực hiện quyền chiếm hữu tài sản, hay còn gọi là quyền chiếm hữu thực tế. Trong một số trường hợp, chủ sở hữu chuyển quyền này cho người khác thông qua một hợp đồng dân sự thì chủ sở hữu vẫn thực hiện quyền kiểm soát đối với tài sản, người thực tế nắm giữ vật thay mặt chủ sở hữu chiếm hữu tài sản (chủ sở hữu gián tiếp), hay nói cách khác là người thực tế chiếm hữu vật thồng qua giao dịch có quyền chiếm hữu theo nội dung giao dịch đã xác lập (khoản 1 Điều 188).

Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác như bán, trao đổi, tặng cho v.v. hoặc theo các căn cứ được quy định từ Điều 242 đến Điều 244 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trong đòi sống thường ngày xảy ra trường hợp có những người không phải là chủ sở hữu nhưng vẫn chiếm hữu tài sản đó. Điều 179 BLDS năm 2015 đã quy định chiếm hữu không chỉ được hiểu là một quyền năng thuộc quyền sở hữu mà là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Do đó, căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể phân thành hai loại là chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định như đối với tài sản bị chôn giấu, bị vùi lấp, bị chìm đắm, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên...

Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản thì chiếm hữu có thể phân thành chiếm hữu ngay tình và chiếm hữu không ngay tình. Điều 180 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đổi với tài sản đang chiếm hữu”.

Căn cứ này có thể xuất phát từ thực tế chủ thể chiếm hữu đồng thời cũng chính là chủ sở hữu của tài sản; hoặc quyền chiếm hữu được xác lập trên cơ sở được chủ sở hữu uỷ quyền quản lí tài sản (Điều 187 BLDS); được chủ sở hữu chuyển giao tài sản thông qua giao dịch dân sự (Điều 188 BLDS). Ngoài ra, trong một số trường họp theo quy định của pháp luật, chiếm hữu của chủ thể không phải chủ sở hữu cũng được xác định là ngay tình.

Ví dụ như trường hợp chiếm hữu đối với tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên, gia súc bị thất lạc, gia cầm bị thất lac... và chủ thể nhặt được tài sản, bắt được gia súc, gia cầm... đã thực hiện đầy đủ các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật. Điều 181 BLDS quy định: “Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyển đối với tài sản đang chiếm hữu”.

Như vậy, trước hết chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu không dựa ttên bất kì căn cứ hợp pháp nào được pháp luật ghi nhận. Nhận thức của chủ thể chiếm hữu tài sản trong trường hợp này là biết rõ về việc chiếm hữu không có căn cứ hợp pháp của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm hữu; hoặc tuy về chủ quan họ không biết về việc này nhưng theo yêu cầu của pháp luật, bất kì chủ thể nào trong trường hợp có hành vi chiếm hữu tài sản tương ứng đều phải biết. Ví dụ: một người biết rõ tài sản có được do trộm cắp nhưng vẫn mua từ người bán do muốn mua với giá rẻ; một người mua xe máy đã qua sử dụng cần phải thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu nhưng đã không thực hiện nên đã mua phải xe máy từ người đã chiếm đoạt ttái phép tấi sản thì tuy nhận thức của họ là hoàn toàn không biết nhưng việc chiếm hữu của họ vẫn được xác định là không ngay tình.

Ngoài ra, việc chiếm hữu còn được xác định theo tình trạng chiếm hữu liên tục (Điều 182) và chiếm hữu công khai (Điều 183). Theo đó, chiếm hữu liên tục được hiểu là: “việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyển đổi với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu ”.

Chiếm hữu công khai là: “việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm, tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tỉnh năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình”.

Những tình trạng chiếm hữu này là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 BLDS, cũng như là căn cứ để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cho chủ thể chiếm hữu tài sản.

Điều 184 quy đỉnh về suy đoán tình trạng và quyền của người chiếm hữu như sau: “1. Người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình; người nào cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh. 2. Trường hợp có tranh chấp về qưyền đối với tài sản thì người chiếm hữu được suy đoán là người có quyền đó. Người có tranh chấp với người chiếm hữu phải chứng minh về việc người chiếm hữu không có quyền ”.

Trong những điều kiện nhất định, nếu việc chiếm hữu là liên tục (Điều 190), công khai (Điều 191) và trong khoảng thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình còn được hưởng quyền xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Họ có thể trở thành chủ sở hữu các tài sản đó kể từ thòi điểm bắt đầu chiếm hữu.

 

5. Phân biệt chiếm hữu và quyền chiếm hữu

Tiêu chí Chiếm hữu Quyền chiếm hữu
Cơ sở pháp lý Điều 179 - Điều 185 Điều 186 - Điều 188
Bản chất pháp lý Chiếm hữu không phải là một loại quyền năng mà là một trạng thái pháp lý Quyền chiếm hữu là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu
Xác lập quyền Sự chiếm hữu chỉ được pháp luật bảo vệ một khi thiết lập được mối liên hệ hợp pháp với quyền sở hữu. Người có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản được pháp luật bảo vệ.
Chủ thể Bất kì ai đang trực tiếp cầm nắm tài sản Chủ sở hữu (Điều 187) và người được chủ sở hữu chuyển giao (Điều 188)
Phân loại Chiếm hữu có căn cứ (Điều 165); và

Chiếm hữu không có căn cứ, bao gồm ngay tình và không ngay tình (Điều 181)

 
Ý nghĩa pháp lý Xác định người chiếm hữu tài sản để:
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chiếm hữu ngay tình
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình khi hợp đồng vô hiệu
Bảo vệ quyền năng của người có quyền chiếm hữu

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./

5 sao của 2 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày
Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất
Tư vấn pháp luật 1-1 qua Zalo