1. Quy định chung về chiết khấu

Chiết khấu, một loại nghiệp vụ ngân hàng mà một ngân hàng trả trước kì hạn cho người có kì phiếu, chẳng hạn, số tiền ghi trên kì phiếu bớt đi một khoản khấu trừ gọi là tÌ suất chiết khấu hoặc là lãi chiết khấu. Lãi chiết khấu được tính theo tỈ lệ phần trăm (%) của mệnh giá. Người sở hữu thương phiếu hay giấy tờ có giá ngắn hạn khác có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ trả nợ trả cho mình khoản tiền bằng mệnh giá. Phương thức chiết khấu được áp dụng để mua, bán giấy tờ có giá ngắn hạn ra đời do nhu cầu kinh doanh của ngân hàng ở các nước tư bản và được xem là một hình thức cấp tín dụng. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tín dụng thương mại không được nhà nước thừa nhận nên phương thức chiết khấu không được áp dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Hiện nay, ở các nước, phương thức chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn không chỉ áp dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng mà còn được áp dụng trong các lĩnh vực khác.

Ở Việt Nam, chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn lần đầu tiên được quy định cụ thể ở Luật ngân hàng nhà nước năm 1997, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật thương mại (năm 1997 và năm 2005). Ngoàicác văn bản pháp luật về phát hành trái phiếu Chính phủ có một số quy định về mua, bán trái phiếu theo phương thức chiết khấu.

2. Khái niệm chiết khấu

Khởi thuỷ, hoạt động chiết khấu của các ngân hàng chủ yểu nhằm vào đối tượng là các thường phiếu do các thương nhân sở hữu. Đây cũng là cách để các ngân hàng có thể tài trợ vốn cho giới thương nhân trong các thương vụ buôn bán, nhất là các thương vụ quốc tế. Cùng với thời gian, sự phát triển đa dạng của các loại giấy tờ có giá trong đời sống dân sự và thương mại đã khiến cho đối tượng chiết khấu tại ngân hàng cũng ngày càng trở nên đa dạng hơn.

Ngày nay, hoạt động chiết khấu của các ngân hàng trên thế giới đều hướng tới việc mua bán các loại giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán ngắn (dưới 1 năm) như hối phiếu, tín phiếu, trái phiếu, kì phiếu... do các tổ chức, cá nhân hoặc Chính phủ phát hành và đang được phép lưu thông trên thị trường. Vì thế, chiết khấu giấy tờ có giá đã ưở thành hình thức tín dụng hỗ trợ đắc lực cho các nhà kinh doanh trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình.

Xét từ góc độ kinh tế, hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng có bản chất là nghiệp vụ tín dụng, bởi vì, khi chiết khẩu giấy tờ có giá của khách hàng, tổ chức tín dụng dụng cam kết mua giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán, với điều kiện khấu trừ ngay một số tiền nhất định tính theo tỉ lệ phần trăm (%) trên mệnh giá của giấy tờ có giá được chiết khấu trong thời gian chiết khấu.

Xét về khía cạnh kình tế, do hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá được xác lập và thực hiện vì nhu cầu cấp tín dụng cho khách hàng nên nó mang ý nghĩa kinh tế như một hợp đồng tín dụng. Còn nếu xét về khía cạnh pháp lí thì hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá thực chất lại là hợp đồng mua bán giấy tờ có giá, với nội dung thoả thuận chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá từ người bán sang cho người mua theo giá cả thoả thuận.

Theo quy định hiện hành, hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá phải được lập thành văn bản và có các nội dung phù hợp với pháp luật cũng như phù hợp với họp đồng mẫu do Hiệp hội ngân hàng ban hành. Theo Điều 12 Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 quy định về chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác của tô chức tín dụng đối với khách hàng).

3. Nội dung của giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá

>> Xem thêm:  Đâu là hình thức phải đăng ký khuyến mại với Sở Công thương ? Hình thức như nào là khuyến mại ?

về bản chất pháp lí, chiết khấu giấy tờ có giá là một quan hệ pháp luật, do đó nội dung của quan hệ pháp luật này chính là quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào giao dịch.

3.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận chiết khấu

Do bên nhận chiết khấu (tổ chức tín dụng) vừa đóng vai trò là người cấp tín dụng, vừa có tư cách là người mua giấy tờ có giá nên cấu trúc quyền và nghĩa vụ của chủ thể này sẽ bao gồm (Xem: Điều 16 Thông tư cùa Ngân hàng Nhà nước số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 quy định về chiết khấu công cụ chuyên nhượng và các giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng đối với khách hàng):

- Quyền yêu cầu khách hàng được chiết khấu chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho mình theo quy định của pháp luật về chuyển nhượng giấy tờ có giá. Kể từ khi khách hàng làm xong thủ tục này, quyền sở hữu giấy tờ có giá sẽ thuộc về tổ chức tín dụng nhận chiết khấu và do đó tổ chức tín dụng trở thành người thế quyền của khách hàng để tiếp tục theo đuổi quyền chủ nợ đối với người có nghĩa vụ trả tiền theo giấy tờ có giá.

- Quyền được khấu trừ khoản lợi tức chiết khấu, lợi tức tái chiết khấu từ mệnh giá của giấy tờ có giá. Quyền năng này được ghi nhận dựa trên cơ sở khoa học là nhằm bù đắp cho tổ chức tín dụng những rủi ro mà họ có thể phải gánh chịu khi chấp nhận mua giấy tờ có giá của khách hàng trước hạn thanh toán.

- Quyền được truy đòi khoản nợ ghi trên giấy tờ có giá đổi với người xin chiết khấu, nếu giấy tờ có giá không được thanh toán bởi người mắc nợ vào ngày đáo hạn. Trên thực tế, quyền truy đòi của người mua - bên chiết khấu (với tư cách là người sở hữu mới của giấy tờ có giá) đổi với người bán giấy tờ có giá (bên được chiết khấu) chỉ đương nhiên tồn tại theo quy định cùa pháp luật đối với trường hợp chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, bao gồm hổi phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và séc. Còn đối với trường hợp chiết khấu các loại giấy tờ có giá khác như tín phiếu, trái phiếu, kì phiếu... thì quyền truy đòi của tổ chức tín dụng nhận chiết khấu đối với khách hàng được chiết khấu chỉ phát sinh khi các bên có thoả thuận trong hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá.

- Nghĩa vụ thanh toán số tiền mua giấy tờ có giá cho khách hàng được chiết khấu, sau khi đã khấu trừ phần lợi tức chiết khấu theo thoả thuận trong hợp đồng chiết khấu. Đây là nghĩa vụ chính yếu của tổ chức tín dụng nhận chiết khấu đối với khách hàng. Nghĩa vụ này được quy định nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn của khách hàng khi tham gia vào giao dịch chiết khấu, tái chiết khấu.

- Nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại vật chất đã xảy ra cho khách hàng được chiết khấu do hành vi có lỗi của mình gây ra trong khi thực hiện hợp đồng chiết khấu.

3.2 Quyền và nghĩa vụ của bên được chiết khấu

Bên được chiết khấu (khách hàng) do vừa có tư cách là người hưởng tín dụng, vừa có tư cách là người bán giấy tờ có giá nên cấu trúc quyền và nghĩa vụ pháp lí cửa chủ thể này sẽ bao gồm (Điều 15 Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/03/2013 quy định về chiết khấu công cụ chuyển nhượng và các giấy tờ có giá khác của tô chức tín dụng đối với khách hàng):

- Nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá được chấp nhận chiết khấu cho tổ chức tín dụng theo phương thức do pháp luật quy định. Đây là nghĩa vụ cơ bản của khách hàng, với tư cách là người bán giấy tờ có giá.

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về chính sách khuyến mãi, giảm giá, chiết khấu ?

- Quyền yêu cầu bên nhận chiết khấu trả tiền mua giấy tờ có giá theo giá cả thoả thuận trong hợp đồng chiết khấu giấy 1 tờ có giá. Quyền năng này chỉ có thể được bên nhận chiết khấu đáp ứng nếu khách hàng đã làm tròn nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu giấy tờ có giá cho tổ chức tín dụng nhận chiết khấu.

- Quyền khiếu nại và khởi kiện đối với bên nhận chiết khấu về các hành vi vi phạm hợp đồng của chủ thể này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

- Nghĩa vụ thực hiện các yêu cầu hợp pháp khác của bên nhận chiết khấu liên quan đến giấy tờ có giá được chiết khấu.

4. Các loại giấy tờ được thực hiện chiết khấu

Điều 6 Thông tư 04/2013/TT-NHNN quy định các loại giấy tờ có giá mà tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được lựa chọn chiết khấu cụ thể như sau:

“Điều 6. Loại công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác được chiết khấu

1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài lựa chọn chiết khấu các công cụ chuyển nhượng phát hành ở Việt Nam hoặc phát hành ở nước ngoài được chuyển nhượng ở Việt Nam, bao gồm:

a) Hối phiếu đòi nợ;

b) Hối phiếu nhận nợ;

c) Séc;

d) Các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài lựa chọn chiết khấu các loại giấy tờ có giá khác bao gồm:

a) Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước;

b) Trái phiếu Chính phủ;

c) Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;

d) Trái phiếu Chính quyền địa phương;

đ) Kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

e) Kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành và được chiết khấu theo quy định của pháp luật hiện hành.”

5. Tác động của lãi suất chiết khấu trong hoạt động ngân hàng

Lãi suất chiết khấu có vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng, do ngân hàng trung ương quyết định. Nó không chỉ tác động đến ngân hàng thương mại mà còn tác động đến cả ngân hàng Trung ương. Theo đó:

Tác động đối với ngân hàng thương mại

Lãi suất chiết khấu ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ dự trữ tiền mặt của các ngân hàng. Ngân hàng thương mại sẽ luôn so sánh lãi suất chiết khấu với lãi suất thị trường để quyết định giảm hay tăng tỷ lệ dự trữ. Cụ thể:

  • Nếu lãi chiết khấu cao hơn thì ngân hàng thương mại sẽ không thể để tỷ lệ tiền dự trữ quá thấp. Đặc biệt, cần tránh tỷ lệ tiền dự trữ chạm mốc an toàn
  • Nếu lãi chiết khấu bằng hay thấp hơn lãi suất thị trường thì ngân hàng có thể thoải mái cho vay. Ngân hàng thương mại chỉ cần dừng lại ở mức tỷ lệ an toàn tối thiểu. Nếu thiếu tiền mặt ngân hàng hoàn toàn có thể vay từ ngân hàng nhà nước.

Tác động đối với ngân hàng Trung ương

Ngân hàng Trung ương sẽ quy định lãi chiết khấu để điều tiết cung tiền. Cụ thể:

  • Nếu ngân hàng muốn tăng lượng cung tiền thì sẽ giảm lãi suất cho vay.
  • Nếu ngân hàng muốn giảm lượng cung tiền thì sẽ tăng lãi chiết khấu. Bởi khi lãi chiết khấu tăng thì ngân hàng thương mại sẽ giảm cho vay.

Đặc biệt, Ngân hàng Trung ương sử dụng hình thức cho vay chiết khấu không chỉ để kiểm soát cung ứng tiền tệ, mà còn là giải pháp giúp đỡ các tổ chức tài chính khi họ rơi vào tình thế khó khăn. Theo đó, với một tiền cơ sở nhất định:

  • Nếu quy định lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ sung khiến cho số nhân tiền tệ giảm xuống (vì tỉ số của tiền gửi so với tiền mặt giảm) để làm giảm lượng cung tiền.
  • Còn khi lãi suất chiết khấu giảm xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật ngân hàng, hoạt động ngân hàng về chiết khấu, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật ngân hàng - Công ty luật Minh Khuê

Câu hỏi thường gặp về chiết khấu ?

Câu hỏi: Ưu điểm của nghiệp vụ chiết khấu trong ngân hàng?

Trả lời:

Ưu điểm:

Đây là một nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ của ngân hàng là chắc chắn.

Chiết khấu là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức đối với ngân hàng, bởi thủ tục và quy trình cho vay khá đơn giản.

Chiết khấu không làm "đóng băng vốn" của ngân hàng

Thời hạn chiết khấu ngắn (thường nhỏ hơn 90 ngày) và ngân hàng thương mại có thể khá dễ dàng xin tái chiết khấu hối phiếu ở Ngân hàng có nhu cầu về vốn.

Tiền cấp cho khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Cho nên nó lại tạo nguồn vốn cho ngân hàng.

Câu hỏi: Nhược điểm của nghiệp vụ chiết khấu trong ngân hàng?

Trả lời:

Nhược điểm:

Ngân hàng có khi phải nhận chiết khấu những hối phiếu giả mạo, có nghĩa là những hối phiếu không thực sự xuất phát từ một quan hệ thương mại do một số người tự ý phát hành giả để lừa đảo ngân hàng.

Người chịu trách nhiệm thanh toán giấy tờ có giá bị mất khả năng thanh toán trước và khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán. Đây được xem là một rủi ro tín dụng thường xảy ra.

Câu hỏi: Chiết khấu L/C là gì?

Trả lời:

Chiết khấu L/C hay chiết khấu bộ chứng từ theo L/C là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng đối với khách hàng, theo đó Ngân hàng sẽ mua lại và có quyền truy đòi Bộ chứng từ theo L/C xuất khẩu trước khi đến hạn thanh toán.

Mục đích của việc chiết khấu này là nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, bổ sung vốn lưu động sau giao hàng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu.

Trong chiết khấu L/C, mức chiết khấu, tỷ lệ chiết khấu sẽ có sự khác nhau tùy theo đối tượng khách hàng, loại L/C. Cụ thể:

- Đối với khách hàng VIP:

L/C trả ngay: mức chiết khấu tối đa đến 100% trị giá bộ chứng từ sau khi trừ các chi phí phát sinh.

L/C trả chậm: mức chiết khấu tối đa đến 98% trị giá bộ chứng từ sau khi trừ các chi phí phát sinh.

- Đối với khách hàng không thuộc định nghĩa VIP:

L/C trả ngay: mức chiết khấu tối đa đến 98% trị giá bộ chứng từ

L/C trả chậm: mức chiết khấu tối đa đến 95% trị giá bộ chứng từ