1. Cơ sở pháp lý

- Luật Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017

- Nghị định số 38/2018/NĐ-CP

- Thông tư 45/2018/TT-NHNN

- Nghị định 34/2018/NĐ-CP

2. Quy định pháp luật về cho vay doanh nghiệp nh và vừa

Trên thực tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường khó tiếp cận vốn vay từ ngân hàng vì năng lực quản trị hạn chế; phương án, dự án kinh doanh, vay vốn xây dựng không bài bản; hệ thống sổ sách tài chính kế toán thiếu minh bạch; tiềm lực tài chính yếu; tài sản bảo đảm ít; dễ bị rủi ro, tổn thương;….

Pháp luật quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ tín dụng như sau:

Thứ nhất, trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức tín dụng tăng dư nợ cho vay; khuyến khích tổ chức tín dụng cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp và biện pháp phù hợp khác; khuyến khích thành lập tổ chức tư vấn độc lập để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Thứ hai, được cấp bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, do ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhắn tin, gọi điện quấy rối đòi nợ của Home Credit có phạm luật ?

3. Điều kiện được Quỹ bảo lãnh tín dụng cấp bảo lãnh đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Pháp luật quy định, doanh nghiệp nhỏ và vừa “chỉ được Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét, cấp bảo lãnh khi hội đủ các điều kiện kiện” sau: (Điều 8, 9 Luật Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017; Điều 14 Nghị định số 38/2018/NĐ-CP)

Thứ nhất, có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay;

Thứ hai, dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh được Quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh theo quy định;

Thứ ba, có phương án về vốn chủ sỗ hữu tối thiểu 20% tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh;

Thứ tư, không có các khoản nợ thuế từ 01 năm trở lên và nợ xấu tại các tổ chức tín dụng. Trường hợp nợ thuế do nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp phải có xác nhận của cơ quan quản lý thuế trực tiếp;

Th năm, có một hoặc nhiều biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn dưới đây theo đánh giá và quyết định của Quỹ bảo lãnh tín dụng trên cơ sở Quỹ bảo lãnh tín dụng do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tĩnh ban hành:

+ Quyền tài sản, tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng hoặc tài sản hiện có của bên thứ ba;

+ Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá của Quỹ bảo lãnh tín dụng;

+ Xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp được xem xét cấp bảo lãnh tín dụng theo đánh giá xếp hạng của Quỹ bảo lãnh tín dụng là doanh nghiệp đảm bảo khả năng trả nợ cho khoản vay tại tổ chức cho vay.

>> Xem thêm:  Cho vay với lãi suất 1.5 % trên một tháng có vi phạm pháp luật không?

Với năm điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa được bảo lãnh nêu trên thì còn chặt chẽ hơn cả điều kiện cho vay và bảo lãnh của ngân hàng theo quy định của pháp luật. Cụ thể, yêu cầu về phương án vay vốn hiệu quả, có khả năng trả nợ là tương đương với điều kiện của ngân hàng. Yêu cầu về vốn chủ sở hữu cao hơn điều kiện của ngân hàng (không có quy định bắt buộc đối với ngân hàng). Yêu cầu về không có nợ thuế và nợ xấu tại các tổ chức tín dụng cũng cao hơn điều kiện của ngân hàng (không có quy định về điều kiện này đối với ngân hàng). Yêu cầu về tài sản thế chấp cao hơn điều kiện của ngân hàng (ngân hàng được phép quyết định cho vay có hoặc không có tài sản bảo đảm).

Do đó nếu doanh nghiệp đã không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng, thì cũng không đủ điều kiện để được các quỹ cho vay vốn hay bảo lãnh. Còn nếu đã đủ điều kiện vay vốn như trên, thì vay ngân hàng mà không cần phải thông qua bảo lãnh của Quỹ, không phải tốn thêm thời gian và một khoản phí bảo lãnh.

Trong khi đó, việc các tổ chức tín dụng cho vay hay không cho vay và cho vay với điều kiện thế nào là hoàn toàn do sự xem xét quyết định của họ. Vì các tổ chức tín dụng cũng là các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, nên hoàn toàn có quyền từ chối cho vay “nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả”.

4. Quy định về việc phối hợp trong cho vay có bảo lãnh của quỹ bảo lãnh tín dụng

Căn cứ quy định tại Điều 7 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Thông tư 45/2018/TT-NHNN, pháp luật quy định về việc phối hợp trong cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng như sau:

Thứ nhất, trường hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng nhận tài sản bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh, bên cho vay, Quỹ bảo lãnh tín dụng, bên có tài sản bảo đảm và các bên liên quan (nếu có) thỏa thuận bằng văn bản để bảo đảm bên cho vay có quyền tiếp nhận và xử lý tài sản bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh trong trưòng hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết;

Thứ hai, trước khi thực hiện cho vay, bên cho vay và Quỹ bảo lãnh tín dụng căn cứ các quy định nội bộ của bên cho vay và phương thức tổ chức điều hành hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng, thực hiện ký thỏa thuận khung hoặc thỏa thuận từng lần (kể cả sửa đổi, bổ sung) về việc phối hợp cho vay có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng để thống nhất các nội dung trong quá trình thực hiện bảo lãnh, cho vay và là cơ sở để thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên khi phát sinh;

Thứ ba, bên cho vay xem xét, thẩm định, quyết định cho vay bằng đồng Việt Nam đối với các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng được Quỹ bảo lãnh tín dụng bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ gốc, trả lãi khoản vay theo quy định pháp luật về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình.

Thứ tư, bên cho vay và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất cho vay bảo đảm lãi suất không cao hơn lãi suất cho vay cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay, phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và quy định của pháp luật có liên quan.

5. Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa là gì?

>> Xem thêm:  Bị nợ xấu nhóm 5 ở ngân hàng phải làm thế nào để được vay thêm theo quy định mới?

Khoản 1 Điều 2 Nghị định 34/2018/NĐ-CP giải thích: Quỹ bảo lãnh tín dụng là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan. Quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại Nghị định này và pháp luật liên quan khi không quy định tại Nghị định này.

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 34/2018/NĐ-CP: Bảo lãnh tín dụng” là cam kết của Quỹ bảo lãnh tín dụng với tổ chức cho vay về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh được quy định tại hợp đồng bảo lãnh tín dụng và quy định của pháp luật. Bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho Quỹ bảo lãnh tín dụng số tiền đã được Quỹ bảo lãnh tín dụng trả nợ thay.

6. Điều kiện thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng

Căn cứ theo quy định tại Điều 5 Nghị định 34/2018/NĐ-CP, để có thể thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cần đáp ứng đủ 04 điều kiện sau:

1. Vốn điều lệ thực có tối thiểu tại thời điểm thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng là 100 (một trăm) tỷ đồng do ngân sách cấp tỉnh cấp.

2. Có dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng phù hợp với quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật liên quan.

3. Có Đề án thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình và được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đề án phải bao gồm các nội dung cơ bản theo quy định của Nghị định này.

4. Danh sách các thành viên dự kiến của Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm: Chủ tịch, Kiểm soát viên, Giám đốc, Phó giám đốc và Kế toán trưởng Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm những người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn.

7. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng

Sau khi thành lập theo đúng quy định của pháp luật, Quỹ bảo lãnh tín dụng phải đảm bảo hoạt động theo các nguyên tắc quy định tại Điều 4 Nghị định 34/2018/NĐ-CP như sau:

>> Xem thêm:  Vay tín chấp không có khả năng trả nợ có bị khởi tố hình sự không ?

1. Quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo đảm an toàn vốn.

2. Quỹ bảo lãnh tín dụng chỉ được thực hiện cấp bảo lãnh tín dụng đối với các khoản vay đúng đối tượng và đủ điều kiện bảo lãnh theo quy định tại Nghị định này.

3. Quỹ bảo lãnh tín dụng chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của mình.

4. Quỹ bảo lãnh tín dụng ưu tiên thực hiện bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên theo quy định tại Nghị định này.

8. Trường hợp chấm dứt bảo lãnh vay vốn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Thưa luật sư, theo tôi được biết bảo lãnh vay vốn là cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ trả nợ vay. Luật sư cho tôi hỏi, đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ việc bảo lãnh vay của Quỹ bảo lãnh tín dụng sẽ chấm dứt trong trường hợp nào? Rất mong nhận được giải đáp. Xin cảm ơn!

Chào bạn, nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Tại Điều 35 Nghị định 34/2018/NĐ-CP quy định nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn của bên bảo lãnh chấm dứt trong các trường hợp sau:

1. Bên được bảo lãnh đã thực hiện trả nợ đầy đủ đối với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng tín dụng đã ký.

2. Bên bảo lãnh đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh tín dụng hoặc chứng thư bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh.

3. Việc bảo lãnh vay vốn được hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác khi có thỏa thuận của các bên có liên quan.

4. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày phát hành chứng thư bảo lãnh mà không có khoản giải ngân nào của bên nhận bảo lãnh cho bên được bảo lãnh thì chứng thư bảo lãnh hết hiệu lực.

5. Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn đã hết.

6. Bên nhận bảo lãnh đồng ý miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh hoặc nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt theo quy định của pháp luật.

7. Theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền đòi nợ mới nhất năm 2021 ? Ủy quyền đòi nợ có hợp pháp ?

Như vậy, theo quy định pháp luật việc bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ chấm dứt trong 07 trường hợp trên.

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Quy định pháp luật về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ? Quỹ bảo lãnh tín dụng là gì?".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

Câu hỏi thường gặp về quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Câu hỏi: Lãi suất cho vay có bảo lãnh của quỹ bảo lãnh tín dụng là bao nhiêu?

Trả lời:

Bên cho vay và khách hàng thỏa thuận mức lãi suất cho vay đối với các khoản vay ngắn, trung, dài hạn của khách hàng có bảo lãnh của Quỹ bảo lãnh tín dụng, đảm bảo lãi suất cho vay không cao hơn lãi suất cho vay cùng kỳ hạn, cùng ngành, lĩnh vực của bên cho vay, phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và quy định của pháp luật có liên quan.

Câu hỏi: Quỹ bảo lãnh tín dụng có phải là pháp nhân?

Trả lời:

 Quỹ bảo lãnh tín dụng có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có báo cáo tài chính riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Thu nhập của quỹ bảo lãnh tín dụng là gì?

Trả lời:

Quỹ bảo lãnh tín dụng có thu nhập từ hoạt động do thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh tín dụng theo quy định tại Nghị định này được miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp Quỹ bảo lãnh tín dụng có thu nhập từ hoạt động khác ngoài hoạt động bảo lãnh tín dụng thì phải nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế.